Đàn Nhị hay Đàn Cò

 
   

Đàn Nhị còn có tên gọi khác là Cò Líu, Cò Lòn hoặc Nhị Líu, Nhị Lòn, là nhạc khí dây, chỉ kéo Cung vĩ.

Theo tài liệu khảo cổ đã phát hiện ở chùa Vạn Phúc (Phật Tích - Thanh Sơn - Hà Bắc) có khắc chạm một dàn nhạc ở bệ đá kê chân cột chùa Phật Tích, với những nhạc cụ có xuất xứ từ ấn Độ và Trung Hoa. Dàn nhạc đó gồm 10 Nhạc-công ăn mặc giống như người Chăm và chơi các loại nhạc cụ trong đó có một nhạc cụ gần giống như Đàn Hồ 2 dây và là tiền thân của cây đàn Nhị bây giờ.

Căn cứ vào đó người ta đã ước đoán Đàn Nhị có thể du nhập vào Việt Nam theo con đường của người Chăm và cũng có thể du nhập theo con đường Trung Hoa tùy theo từng thời gian địa điểm khác nhau. (Theo lịch sử âm nhạc của giáo sư Trần Văn Khê và Văn Thương).

Đàn Cò là một nhạc khí gồm có năm phần: cần đàn, thùng đàn (tức ống đàn hay gọi là bát nhị), thủ đàn, ngựa đàn và dây đàn.

Đàn Nhị làm bằng gỗ gụ hay trắc. Bầu cộng hưởng gọi là bát nhị:

Cần đàn tròn không có phím, đầu dưới cắm xuyên qua bầu đàn, đầu trên gọi là Thủ đàn. Cần đàn dài từ 71 đến 75 phân, có đường kính độ 01 phân 50; một đầu cần cắm vào thùng đàn. Hai trục ấy dài khoảng 16 phân và cách đều nhau khoảng 06 phân.

Thùng đàn hay Bát nhị là hình ống rỗng lòng, dài khoảng 13,8 cm, một đầu bịt da trăn hay da kỳ đà còn gọi là Thùng đàn được làm bằng gỗ, hơi cao ở giữa.

Mặt thùng đàn được bịt da trăn hoặc da trâu, có đường kính độ 05 phân 50. Riêng cái loa không bịt gì cả, có đường kính độ 07 phân 50. Lớp gỗ để làm thùng đàn dày độ 04 phân. Bề dài của thùng đàn tức khoảng cách giữa mặt đàn và cái loa độ 13 phân. Trên mặt thùng đàn có đặt một con ngựa nhỏ để căng hai sợi dây đàn: sợi lớn, sợi nhỏ, cả hai sợi đều bằng tơ, được buộc từ trục chạy dài xuống mặt thùng đàn gác trên con ngựa và luồn qua cái suốt. Cái suốt (còn gọi là cái khuyết) là cái vòng tròn bằng đồng hay bằng tơ đặt giữa cần đàn, có thể di chuyển lên xuống dễ dàng khi muốn lên dây cao thấp. Lúc lên dây, bao giờ sợi dây lớn cũng dùn còn sợi giây nhỏ sẽ thẳng

Thủ đàn hình đầu con cò, có gắn hai trục gỗ tròn để lên dây, có khi trục đàn được chạm khắc cầu kỳ.

Ngựa đàn làm bằng tre hay gỗ dài 1 cm đặt khoảng giữa mặt da.

Khuyết đàn còn gọi là “Cữ đàn” là một sợi tơ xe néo vào 2 dây đàn. Cữ đàn có tác dụng điều chỉnh độ cao thấp của âm thanh. Khi đưa cữ đàn xuống là làm ngắn quãng dây phát âm, đàn có giọng cao. Khi đẩy cữ đàn lên, làm dài quãng dây phát âm, đàn có giọng trầm.

Cung vĩ làm bằng tre, hoặc gỗ được uốn cong hình cánh cung, người ta mắc vĩ như dây cung. Vĩ đàn đặt giữa hai dây, khi đàn vĩ cọ xát vào dây phát ra âm thanh.

Đàn Nhị có 2 dây bằng tơ xe, gần đây đã thay bằng dây kim khí, được lên theo quãng 5 đúng. Ví dụ muốn đánh những bài Bắc (có chất vui) tương ứng với hai âm G1-D2, bài Nam (chất buồn) F1-C2, bài Chèo C1 - G1...

Đàn Nhị thường tham gia trong dàn Nhã Nhạc, phường Bát Âm, ban nhạc Tài Tử, ban nhạc Chầu Văn, dàn nhạc sân khấu Tuồng, Chèo...

Ngày nay nhiều Nhạc-sĩ đã sáng tác các tác phẩm cho cây Đàn Nhị. Nhờ những tác phẩm ấy, Đàn Nhị đang dần trở thành cây đàn độc tấu có chất lượng nghệ thuật cao.

Ngoài ra, trên cây đàn cò còn một thanh tre (hoặc thanh tầm vong) hình cánh cung mà sợi dây cung (gọi là bã đàn) làm bằng dây gân hay lông đuôi ngựa (mã vĩ). Mã vĩ được chà trên nhựa thông trược rồi đặt giữa hai sợi tơ trên. Muốn phát ra âm thanh, ta chỉ cần cầm thanh tre đưa qua lại để mã vĩ chạm vào hai sợi dây thì nghe tiếng ò e. Âm thanh phát ra êm-ái hay chát-chúa là tùy theo nghệ thuật chơi đàn của nhạc-công.

Những nhạc công mới tập bao giờ âm-thanh phát ra cũng chát-chúa xé tai.

Những nhạc công tài hoa có thể diễn tả đủ giọng vui, buồn, êm ái, hòa nhã.

Âm thanh của đàn cò hơi giống âm thanh của vĩ cầm Tây Phương nhưng thanh hơn.

Tóm lại: Đàn Nhị hay còn gọi Đàn Cò, vì nếu các người buôn bán không có thể đàn, phân biệt rõ-ràng các âm phù “Thồn tang” và kéo với một cung đàn làm cho rung cái dây và luôn luôn có giọng: CÒ, KE. Từ đó có tên “Cò”. Nhưng người Việt-Nam chúng ta vốn có những tình cảm chơi vơi, nhẹ-nhàng mà thanh thoát, qua bài Ca-dao:

“Con Cò là cò bay lả, lả bay la. Bay qua, qua ruộng lúa, bay về là về Đồng xanh. Tình tính tang…là tang tính tính…Có nàng rằng…là Cô nàng ơi. Rằng có biết..là biết cho chăng…Rằng có biết là biết cho chăng?

Thì chắc rằng đây tiếng Đàn Cò có những âm thanh dìu-dặt, du-dương, nhẹ nhàng và thanh thoát dường ấy.