Năm cây hương:
Hương: cây nhang đốt cháy tỏa mùi thơm.
Khi chưa đốt gọi là Nhang, khi đốt lên thì gọi là Hương.
Phần Tiểu Dẫn: Cách thờ phượng và cúng kiếng, nơi phần đầu của Quyển Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, Hội Thánh viết như sau: "Khi cúng Thầy, phải đốt cho đủ năm cây hương, cắm hàng trong ba cây gọi là Án Tam Tài, thêm hàng ngoài hai cây nữa gọi là Tượng Ngũ Khí."
Thứ tự cắm 5 cây hương:
Thứ tự cắm 5 cây hương nầy giống như khi chúng ta lấy dấu: Nam mô Phật, Pháp, Tăng. (Xem hình vẽ)
Án Tam Tài: Án là cầm giữ, đứng hàng ngang. Tam Tài là: Thiên, Địa, Nhơn. Án Tam Tài là ba ngôi Thiên Địa Nhơn đứng hàng ngang.
Tượng Ngũ Khí: tượng trưng 5 chất Khí, tức là 5 cái năng lực khởi đầu của vũ trụ. Ngũ Khí là chất khí nên không hình ảnh, thuộc thời Tiên Thiên, nhưng khi ngưng kết lại thì có hình ảnh, thuộc thời Hậu Thiên, tạo thành Ngũ Hành: Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ.
Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo giải thích như sau:
"Nói về 5 cây nhang, từ thử Bần đạo để cho các Nho gia tự do giảng giải sao thì giảng, còn Bần đạo hiểu rõ là Ngũ Khí.
Chí Tôn dùng Ngũ Khí biến thành Ngũ Hành, vận chuyển Càn khôn thế giới, tức là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Mỗi chất đều có mỗi sắc, mỗi sắc đều có mỗi Khí. Mùi vị và sanh quang của nó, chúng ta không thể hưởng được, nghe được.
Nên chi, khi làm lễ đốt đủ Năm cây hương là đúng theo phép tín ngưỡng, là qui pháp lại, mọi vật trong Ngũ Khí dâng lễ cho Đức Chí Tôn, chỉ có Người vui hưởng qui pháp ấy mà thôi. Cắt nghĩa rõ rệt ra là Ngũ Khí đó vậy. Đúng hơn nữa là trong Bát hồn vận chuyển được phải nhờ đến Ngũ Khí, cùng một ý nghĩa với: Vạn vật đồng thinh niệm Chí Tôn."
Vậy Năm cây hương nầy là lễ hiến Ngũ Khí dâng lên Đức Chí Tôn.
Năm cây hương nầy, chữ Hán gọi là: Ngũ hương hay Ngũ phần hương. Do đó, một số vị giải thích ý nghĩa Năm cây hương theo y như Phật giáo. Điều nầy không phù hợp với lời giải thích của Đức Phạm Hộ Pháp, tức là không đúng theo giáo lý của Đạo Cao Đài.
Hơn nữa, Ngũ hương bên Phật giáo là 5 thứ hơi thơm, chớ không phải là 5 cây nhang đốt lên cắm vào lư hương khi làm lễ. Chúng ta sẽ thấy sau đây:
Theo Phật học Từ Điển của Đoàn Trung Còn, trang 397 cuốn II, giải thích Ngũ hương, chép ra:
"Ngũ hương là năm thứ hương, năm thứ hơi thơm.
Trong khi dâng các thứ hương như: trầm hương, quế hương, chiên đàn hương, v.v... cúng Phật, người ta cũng thành tâm mà dâng luôn năm thứ hương nơi mình:
-
Giái hương (Encens de la bonne conduite)
-
Định hương (Encens de la méditation)
-
Huệ hương (Encens de la sagesse)
-
Giải thoát hương (Encens de la délivrance)
-
Giải thoát tri kiến hương (Encens de la vue parfaite).
Giái hương: Hơi thơm của người có giái hạnh.
Người ấy lòng không chê bai kẻ khác, không hung dữ, không ganh hiền ghét ngõ, không tham không giận, không ép người và không gạt người.
Định hương: Hơi thơm của người tu thiền.
Người ấy giữ tâm tự nhiên, không phiền lụy vì sự thiện ác ở đời, không vui không giận, không sợ không mừng, tức là tâm chẳng loạn động.
Huệ hương: Hơi thơm của người đắc trí huệ.
Người ấy tâm được giải thoát, không chạy rượt theo danh lợi, không bị danh lợi ràng buộc mà sa vào thất tình. Nhờ vậy, tâm được sáng suốt, phân biệt được việc thiện, ác.
Giải thoát hương: Hơi thơm của người được giải thoát.
Người ấy giữ cho tâm ý đừng có dính vào các sự ác trược, không theo bọn sư tà thuật phù chú, hùng cường mà làm việc thiện, dẫu có bị hại cũng không nao.
Giải thoát tri kiến hương: Hơi thơm của người tự biết mình được giải thoát.
Người ấy được tâm tự tại, biết mình được giải thoát, thấy cái bổn tánh Như Lai của mình.
Ngũ hương ấy cũng kêu là Ngũ phần pháp thân hương, năm sự thơm lành hiệp lại làm cái Pháp thân. Năm thứ hương ấy quí hơn tất cả các thứ hương bằng vật chất mà mình cúng dường lên Phật.
Ngũ hương lại là 5 thứ hương dùng để cúng Phật hoặc để làm thơm đồ vật:
1. Đàn hương. 2. Trầm hương. 3. Đinh hương. 4. Uất kim hương. 5. Long não hương.

Xem tiếp: Năm châu