ĐỀN THỜ PHẬT MẪU & NGHI LỄ

Đền thờ chính định cất trên khoảng đất rộng 4 mẫu, trước cửa số 1, lộ Bình Dương Đạo. Đền sẽ rộng lớn bằng Đền Thánh vì Ngôi Dương (Đức Chí Tôn) và Ngôi Âm (Đức Phật Mẫu) đồng quyền nhau.
Vào năm Nhâm Thìn (1952) nhân dịp sửa chữa lại Báo Ân Từ (tạm dùng làm nơi thờ Đức Phật Mẫu) , Đức Phạm Hộ Pháp có chỉ cho các thợ hồ công quả đắp các pho tượng sau :
Đức Hộ Pháp chỉ dạy về việc đắp chơn dung như sau :
Đức Phật Mẫu có từ thuở khai thiên do khí Âm Dương tạo thành, có quyền năng vô đối, vô biên, vô lượng, cũng như Đức Chí Tôn, hữu hữu vô vô, nắm trọn bí quyết nhiệm mầu của Càn Khôn Vũ Trụ. Chớ không phải Bí pháp biến thành Thể Pháp do hiện tượng sự tích đời Hán Võ Đế. Đó chỉ là mượn ý tạc hình, chớ Phật Mẫu vốn vô vi".
Đức Phạm Hộ Pháp nói về việc cầu Phật Mẫu của Hán Võ Đế như sau :
Đức Phật Mẫu dạy 4 Nữ nhạc trao 4 quả đào Tiên cho Hán Võ Đế và Đông Phương Sóc quì rước lộc Việc tạo hình Đức Cao Thượng Phẩm thay cho Hán Võ Đế là Hớn Chung Ly giáng sanh thành lập quốc gia. Kỳ Hạ nguơn nầy, Đức Cao Thượng Phẩm cũng là chơn linh của Hớn Chung Ly tái thế lập thành Quốc Đạo, nên tạo hình Đức Cao Thượng Phẩm thuận hơn".
Còn bức tường phía ngoài, đối diện với các tượng Cửu Vị Nữ Phật, thì Đức Ngài cho tạc hình Nam Bình Vương Phật.
"Từ lúc đưa tay nắm đạo quyền", Đức Cao Thượng Sanh tiếp tục để hoàn thành kiến thiết cơ bản. Ngài cho xây dựng cửa Chánh Môn, 12 cửa Nội ô Toà Thánh, các Thánh Thất, các Điện thờ Phật Mẫu ở 18 phận Đạo và ở các Châu Tộc xa xôi.
Ngài còn hoài vọng xây Đền Thờ Phật Mẫu nên chấp bút học hỏi, được Bát Nương dạy :
Vì theo ý Ngài, phần đất trước cửa Hoà Viện (số 1) ngày nay nhơn sanh ở dày đặc, khó giải toả, nên Bà Bát Nương giáng dạy như trên và còn cho biết kích thước Đền Thờ mới như sau :
Vườn Ngạn Uyển phải trồng đủ 12 sắc hoa tượng trưng 12 con giáp. Ao Thất Bửu phải cẩn đủ 7 loại báu qúi : Pha Lê, Xà cừ, Châu, Ngọc, Vàng, Bạc, Đồi mồi.
Ở mặt sau, nơi thờ Phật Mẫu, cũng xây Đài Bát Giác như Bát Quái Đài, nhưng gọi là Tạo Hoá Thiên hành khiển "Bát hồn vận chuyển hoá thành chúng sanh", trên đỉnh có tượng Tam Thánh Bạch Vân Động. (bên ngoài Bát giác, bên trong nội tiếp đường tròn, chỉ vòng vô vi xem hình). Vì câu liễn trước Đền Thờ Phật Mẫu là :
BÁT phẩm chơn hồn tạo thế giái hoá chúng sanh vạn vật hữu hình tùng thử ĐAÏO.
QUÁI hào bác ái định càn khôn phân đẳng pháp nhứt thần phi tướng trị kỳ TÂM.
Toàn thể bên ngoài sơn toàn một màu trắng (màu đạo, khi các con về với Mẹ phải mặc đồ toàn trắng), trừ mái ngói sơn màu đỏ, không được vẽ hình gì cả.
Bên trong Đền Phật Mẫu vẫn trần thiết cách thờ như cũ : tạc tượng Phật Mẫu và Cửu Vị Nữ Phật, hai bên thờ các Thánh tử Đạo. Đối diện với tượng Phật Mẫu ( ở ngoài đi vào) là tượng Nam Bình Vương Phật (tức tượng Đức Hộ Pháp mặc áo cà sa).
Từ Nam Bình Vương Phật đến tượng Phật Mẫu phải có 8 bậc tượng trưng Bát Cảnh Cung (Đền Thánh có 9 bậc là Cửu Thiên khai hoá). Trong nội điện có sơn màu như cũ.
Tấm vách sau lưng Nam Bình Vương Phật, phía ngoài tức mặt trước thì tạc tượng "Thiên cơ chuyển hoá" tức lấy sự tích trong 9 bài Cửu mà Hội Thánh Phước Thiện đã vẽ và đã cho xuất bản.
Tóm lại, Đền thờ mới vẫn gọi là Đền Thờ Phật Mẫu, mặt tiền có 3 lầu, cao nhứt là Lôi Âm Tự, hai bên có Ao Thất Bửu và Vườn Ngạn Uyển.
Tấm vách dưới Lôi Âm Tự có tạc tượng " Thiên cơ chuyển hoá" (chỗ mà Đền Thánh tạc tượng Tam Thánh). Cung thờ Phật Mẫu gọi là Tạo Hóa Thiên, đối diện với tượng Phật Mẫu là tượng Nam Bình Vương Phật.
Sau đó Đức Thượng Sanh giải thích thêm :
Bên gian trái, trên nền trắng đề 4 chữ : "HẢI NGOAÏI CHI THẾ" để thờ chơn linh các bậc Thánh nhân, hiền triết anh hùng nước ngoài, các chức sắc Chi Thế cũng được thờ ở đây khi qui vị.
Bên gian phải, trên nền trắng đề 4 chữ Hán : "QUỐC NỘI CHI ĐAÏO",đó là mục đích của Đức Chí Tôn lập nền Quốc giáo. Gian nầy thờ các chiến sĩ vô danh, các anh hùng hào kiệt nước Việt Nam. Các chức sắc vì Đạo cũng được thờ ở đây khi qui vị.
Báo Ân Từ là nơi vẫn trần thiết các lễ từ trước tới nay thuộc quan, hôn, tang, tế hoặc các ngày giỗ chung v…v…
Tóm lại, Đạo có ba chi : Đạo, Pháp và Thế. Đắc thế, đắc pháp, đắc đạo, việc nào cũng được nhơn sanh kính trọng như lời dạy của Đức Phật Mẫu (xem lại chương I, phần Thi văn dạy đạo), nên những nhân vật lừng danh đều phải được nhơn loại đền ơn đáp nghĩa để noi theo cái gương cao cả và hành động tốt lành của các bậc hiền triết, chơn nhơn mà đắc quả tại thế gian.

- Đến giờ, Lễ vụ kệ chuông nhứt :
Pháp giái chúng sanh đồng đăng bỉ ngạn.
(dộng một tiếng chuông)
Aùn Dà Ra Đế Dạ Ta Bà Ha .
(dộng một tiếng chuông)
- Khi kệ chuông nhứt dứt, tất cả sắp hàng tuần tự, tay bắt ấn tý để trước ngực, đi vào chánh điện, phân làm ba ban : phía trong nhìn ra, phái nữ vào căn giữa và căn bên hữu, phái nam vào căn bên taû đứng hầu.
- Lễ xướng : "TỊNH TÚC THỊ LẬP " tất cả đứng lên trang nghiêm yên lặng.
- Lễ xướng : "CHẤP SỰ GIẢ CÁC TƯ KỲ SỰ", Chư vị có trách nhiệm trong Đàn phải chuẩn bị lo phận sự.
- Lễ Vụ kệ chuông nhì :
Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác
(dộng một tiếng chuông)
Aùn Dà Ra Đế Dạ Ta Bà Ha
(dộng một tiếng chuông)
- Lễ xướng : "CUNG THÀNH THỨ TỰ NAM NỮ NHẬP ĐÀN" , Lễ vụ khắc ba tiếng chuông, tất cả xá Đàn bước vào vị trí hành lễ, hướng vào bàn thờ Đức Phật Mẫu, chờ nhạc tấu Huân-Thiên.
- Khi nhập Đàn cúng Đức Phật Mẫu thì tay bắt ấn tý xá ba xá, quì xuống, để tay lên trán, niệm :
Mỗi câu xá xuống một xá, đủ 3 xá rồi thì để tay ấn tý nơi ngực mà đọc kinh.
Khi Đồng nhi tụng dứt bài kinh : Niệm hương, Phật Mẫu Chơn kinh, dâng hoa, dâng Rượu, dâng Trà, Sớ văn, Ngũ nguyện đều lạy 3 lạy, mỗi lạy 3 gật , mỗi lần gật niệm : "Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn".
Khi dâng Tam Bửu cũng nguyện như tại Thánh Thất, nhưng thay vì "dâng cho Đức Chí Tôn", thì tại Điện thờ Phật Mẫu " dâng cho Đức Phật Mẫu".
Sau phần Ngũ nguyện, chư vị quì cúng, lạy xong đứng dậy thì chư thiện tín nam nữ già yếu vào bái lễ Đức Phật Mẫu theo sự sắp đặt của Ban trật tự Đàn cúng, khi bái lễ không cầu viện chỉ niệm :
Lạy 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi gật niệm " Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn". Gật 9 lần niệm 9 lần.
Chờ bái lễ xong, đứng phân ban Nam Nữ nghiêm chỉnh Nghi lễ kệ 3 câu chú :
- Thiên phong hải chúng Quốc thới dân an.
Hồi hướng đàn đường tận thâu pháp giái.
(dộng một tiếng chuông)
Aùn dà ra Đế Dạ Ta Bà Ha.
(dộng một tiếng chuông)
Sau rốt, Nghi lễ khắc 3 tiếng chuông bãi Đàn.
Khi bãi Đàn, đồng đạo tuần tự theo hàng đi ra như nhập Đàn, không tẻ hàng qua lại bái lễ nơi Bàn thờ Tả ban. Muốn bái lễ những nơi này thì phải chờ mọi người tuần tự ra hết rồi mình mới trở vào bái lễ cho khỏi trở ngại.
Thường ngày, sau những thời cúng nơi Điện thờ Phật Mẫu, đồng Đạo có tụng kinh Di Lặc, kinh Cứu khổ để cầu nguyện cho chúng sanh và chư Chơn Linh quá vảng. Mặc dù sau mỗi bài kinh đều có tụng câu chú của Thầy 3 lần : "NAM MÔ CAO ĐÀI TIÊN ÔNG BỒ TÁT MA HA TÁT", nhưng khi lạy Đức Phật Mẫu thì phải niệm : "NAM MÔ DIÊU TRÌ KIM MẪU VÔ CỰC THIÊN TÔN".
Căn cứ lới phê của Đức Hộ Pháp năm Tân Mão (1951) nơi Điện thờ Phật Mẫu địa phương không được tổ chức lễ HỘI YẾN DIÊU TRÌ CUNG . Nguyên văn lời phê như sau :
