

Tiểu sư Cô JEANNE D'ARC
Lục Nương Diêu Trì Cung
Tiểu sử Cô VƯƠNG THỊ LỄ
Thất Nương Diêu Trì Cung
Tiểu sử Cô CAO THỊ KHIẾT
Cửu Nương Diêu Trì Cung

Tiểu sử của Nữ Thánh Jeanne d'Arc đã gây nhiều cảm hứng cho giới Văn nghệ sĩ Pháp, nên họ đã viết nhiều tác phẩm thơ văn, bi kịch và nhạc kịch ca ngợi Nữ Thánh Jeanne d'Arc sau đây :
- Bi kịch của Schiller (1801) : Jungfrau von Orleans.
- La Sainte Jeanne của G.B. Shaw (1923).
- Jeanne au bucher, nhạc kịch của P.Claudel (1937).
BIÊN BẢN về vụ án của Cô Jeanne d'Arc do ông Thomas de Courcelles lập , được dịch ra sau đây :
" Vị Giám Mục :
Tên và biệt danh của Cô ?
Jeanne : Ở làng tôi, người ta gọi tôi là Jeannette và sau nầy người ta gọi tôi là Jeanne. Tôi không biết gì cả về biệt danh.
Vị Giám Mục : Cô sanh quán ở đâu ?
Jeanne : Tôi sanh ở làng Domrémy, sáp nhập với làng Greux. Ở làng Greux có Giáo đường chánh.
Vị Giám Mục : Tên của cha mẹ Cô ?
Jeanne : Cha tôi tên là Jacques d'Arc, mẹ tôi là Isabelle Romée.
Vị Giám mục : Cô được rửa tội ở đâu ?
Jeanne : Ở Giáo đường làng Domrémy.
Jean Beaupère: Thuở nhỏ, Cô có học nghề gì không ?
Jeanne : Có, học may những tấm bảng bằng vải gai và học đan. Tôi không thua một phụ nữ nào ở thành phố Rouen về đan và may.
Jean Beaupère : Đã có một lần Cô rời khỏi nhà cha Cô phải không ?
Jeanne : Vì sợ phe Bourguignons, tôi có lìa nhà cha tôi và đến Neufchâteau ở Loraine cư ngụ nơi nhà một phụ nữ có biệt danh là Chị Tóc hoe khoản 15 ngày.
Jean Beaupère : Cô làm gì thuở Cô ở nhà cha Cô ?
Jeanne : Khi tôi ở nhà cha tôi, tôi làm công việc nhà và không ra đồng với bầy trừu cái và thú vật khác.
Jean Beaupère : Mỗi năm Cô có xưng tội không ?
Jeanne : Có, xưng tội với Cha Cố và khi Cha Cố bận việc, tôi xưng tội với một tu sĩ khác, được sự chấp thuận của Cha Cố. Đôi khi dường như 2, 3 lần gì đó, tôi xưng tội với các tu sĩ hành khất trong thành phố Neufchâteau nói trên và tôi được ban phép làm Mình Thánh Chúa vào Lễ Phục Sinh
.
Jean Beaupère : Lúc nào Cô đã khởi nghe những gì mà Cô gọi là những tiếng nói ?
Jeanne : Lúc tôi 13 tuổi, tôi có nghe tiếng nói của Đức Chúa Trời giúp tôi tự sửa mình. Đó là lần thứ nhứt, tôi sợ quá ! Và khoảng 12 giờ trưa, tiếng nói đó đến, vào mùa hè, trong khu vườn của cha tôi. Bữa trước, tôi đã không kiêng cử ăn. Tôi nghe tiếng nói phía tay mặt, hướng Giáo đường, và thường thường tôi nghe rất rõ ràng. Thật ra có ánh sáng từ phía đó. Từ thuở ấy, thông thường có một ánh sáng rực rỡ. Khi tôi đến gặp nhà vua để tôi trình bày sứ mạng của tôi và chiến đấu, tôi thường nghe tiếng nói ấy.
Cô Jeanne d'Arc bị bắt ngày 23-5-1430, bị bán cho người Anh ngày 21-11-1430.
Cô bị đưa lên dàn hỏa ngày 30-5-1431 lúc Cô 19 tuổi.
Vua nước Pháp thời nầy là Charles VII (1422-1461).
(Tài liệu dịch ra Việt văn của ông Nguyễn lộc Thọ).
Sau đây, xin chép ra một bài Thánh giáo bằng Pháp văn của Cô Jeanne d'Arc, Lục Nương Diêu Trì Cung :
Phnom-Pênh, nuit du 16/17 Février 1933, 2 h 15.
Médium : Hộ Pháp et Tiếp Đạo.
Présents à la séance : Giáo Sư LATAPIE et quelques dignitaires.
J'y suis en effet, chère frère Latapie,
A qui puis-je donner une nouvelle vie.
Assoiffé de toute tendresse
Vous vous trouviez dans une réelle faiblesse.
Avec votre infidèle SÁU, vous l'encouragiez à vous trahir,
Elle est maintenant condamnée avec sévérité,
A des souffrances morales parmi les pires.
Elle n'obtiendra son salut que par vous.
Aidez-moi donc dans vos prières et je pourrai tout.
Soyez fidèle à notre Maitre Divin,
Faites avec dévouement votre devoir de Saint.
Nous sommes là pour vous aider
Et faciliter votre tâche, il faut y penser.
Un corps d'Esprits européens est à ce jour constitué,
Ils travailleront avec vous en communauté.
Soyez donc vaillant,
La grandeur d'âme francaise en dépend.
Au revoir.
Dịch ra Việt văn :
Nam Vang, đêm 16/17 tháng 2 năm 1933, 2giờ 15.
Phò loan : Hộ Pháp và Tiếp Đạo.
Hầu đàn : Giáo Sư Latapie và vài chức sắc.
Quả thật, Em đến đây, Hiền huynh Latapie thân mến,
Để cho Hiền huynh một nếp sống mới.
Khao khát tình triều mến
Hiền huynh lâm vào một nhược điểm thật sự.
Đối với nàng Sáu thất tiết của Hiền huynh,
Hiền huynh đã khuyến khích nàng phản bội,
Nay thì nàng bị kết án nghiêm khắc,
Với những đau khổ tinh thần tệ hại nhứt.
Nàng sẽ được cứu rỗi bởi Hiền huynh mà thôi.
Vậy Hiền huynh hãy giúp Em trong lời cầu nguyện và Em sẽ làm được tất cả.
Hiền huynh hãy trung thành với THẦY của chúng ta,
Hãy thi hành tận tụy nhiệm vụ của một vị Thánh.
Chúng tôi ở đây để giúp đỡ Hiền huynh,
Và dễ làm tròn bổn phận, hãy ghi nhớ.
với Hiền huynh trong cộng đồng.
Vậy Hiền huynh hãy dũng cảm,
Tâm hồn cao thượng của người Pháp tùy thuộc vào đây.
Tạm biệt.
Thánh giáo của LỤC NƯƠNG bằng Việt văn :
Thảo Xá Hiền Cung, ngày 15-10-Kỷ Tỵ (dl 15-11-1929)
Em xin chào mấy chị. Cười . . .
Hèn lâu, Em ao ước sao đặng hội hiệp cùng mấy chị cho thân mật tâm tình, nhưng không phương chi đặng. Nay nhờ Hương Hiếu Đại Tỷ và Hộ Pháp Nhị Ca khẩn đảo Diêu Trì huấn độ Nữ nhi. Em lãnh lịnh Thầy Em là Kim Mẫu Nương Nương mong đến tỏ tường Thánh giáo. Em chủ tính là nâng đỡ trí thức tinh thần của Nữ phái lên cao cho vừa cùng Nam phái. Em ước ao sao cho mấy chị đặng vậy là thỏa nguyện. Cười . . .
Trước khi giảng dạy điều Vô vi bất kiến, Em khởi giải phẩm vị Nữ Nam nơi trần hoàn nầy, bởi đâu mà phân biệt ? Mà cũng vì phân biệt ấy mà đè nén, nghịch nhau, làm cho Cơ Trời ra dời đổi.
Nam Nữ vốn tương thân mà không tương ý, là tại nơi nào ? Thì cũng tại học thức bất đồng, tinh thần bất ngộ. Cơ tạo thế do đó mà gầy ra toàn nhơn loại. Không đồng tâm đồng chí thì là phân biệt sang hèn, làm cho cơ đời ra nghịch đời bởi đó. Nam là chi ? Nữ là chi ? Nam Nữ trước thiêng liêng vốn không phân biệt, chỉ tại mang lấy cốt phàm. Vậy thì Nam có thể là Nữ, mà Nữ có thể là Nam. Tâm thần đồng phẩm hạnh mới phải.
Em tỷ như ở cõi thiêng liêng, đời hằng biết danh hơn hết là Từ Hàng Bồ Tát, trước vẫn là Nam, sau hóa ra Nữ. Vậy Nữ với Nam vốn một phẩm quyền. Nam dường nào, Nữ cũng đối quyền. Duyên phận ấy tại quyền mình lập vững.
Mong sao cho mấy chị hiểu thấu giá trị của mình, đừng để cho người khinh cam hổ phận.
Từ đây, Diêu Trì Cung chung lo lập phận cho mỗi người, chỉ xin mấy chị một điều là làm thế nào cho ra xứng giá.
Ngày mùng 1 tới, có Thầy Em giáng cơ cho Pháp hiệu. Vậy thì đợi lịnh ấy, rồi các Em sẽ lo dạy dỗ.
An lòng chờ đợi, đừng đem dạ mờ hồ làm thất Thánh truyền rất uổng.
Khá nhớ lời Em.
THĂNG

I. KIẾP SANH Ở TRUNG HOA.
Thất Nương đầu kiếp trong một gia đình quan Đại Thần đương triều. Cô lớn lên trong sự giàu sang quyền quí, nhưng không giống như các tiểu thư đài các khác, Cô rất hiền hòa độ lượng. Tiếng tốt đồn vang, khiến cho một chàng thư sinh đem lòng ngưỡng mộ thầm yêu.
Chàng thư sinh không dám thố lộ cùng ai, vì chàng thuộc gia đình dân giả, còn nàng là tiểu thư khuê các con quan Đại Thần. Chàng chỉ biết im lặng ôm mối tình si tuyệt vọng.
Cô chẳng hề hay biết, vẫn ngây thơ sống trong nhung lụa. Nhưng chẳng may Cô vắn số, mới vừa ở tuổi cập kê là bị bạo bịnh qua đời, dầu gia đình có rước lương y đến nhưng cứu Cô không kịp.
Chàng thư sinh hay tin, như sét đánh ngang tai, ôm chặt mối tình tuyệt vọng, ngơ ngẩn như kẻ mất hồn, dần dần thân hình tiều tụy và cũng qua đời.
Hồn chàng thư sinh phưởng phất bay về cõi thiêng liêng. Theo luật Thiên điều, dù vô tình hay cố ý, Cô cũng có quan hệ với oan hồn của chàng thư sinh, nên Cô phải tái kiếp một lần nữa để trả cái món nợ oan tình đơn phương đó.
II. KIẾP SANH Ở VIỆT NAM.
Hồn chàng thư sinh ấy đầu thai xuống trước tại Chợ Lớn, trong một gia đình khá giả. Khi lớn lên, chàng được cha mẹ cho ăn học đầy đủ. Chàng rất chuyên cần học tập, nên học rất giỏi. Sau khi thi đậu xong bằng Tú Tài, cha mẹ cho chàng qua Pháp học Đại học Y khoa để sau nầy trở thành một Bác sĩ.
Phần Cô Thất Nương, sau đó cũng tái kiếp xuống trần, đầu thai vào gia đình họ Vương ở Chợ Lớn. Cô sanh ngày 8-1-Canh Tý (1900) có tên là Vương thị Lễ. Thân phụ của Cô là Ông Vương quan Trân làm Đốc Phủ, Thân mẫu là Bà Đỗ thị Sang, con gái của quan Tổng Đốc Đỗ hữu Phương.
Ông Vương quan Trân là anh ruột của Ông Vương quan Kỳ. Ông Kỳ, sau nầy, được Ông Phủ Ngô văn Chiêu độ, nhập môn vào Đạo Cao Đài, được Đức Chí Tôn phong phẩm Giáo Sư Thượng Kỳ Thanh. Hai Ông Trân và Kỳ là con của Ông Vương quan Để và Bà Huỳnh thị Bảy. Bà Huỳnh thị Bảy là con gái của Ông Huỳnh mẫn Đạt, còn Ông Vương quan Để là con của quan Thống Chế Vương quan Hạc.
Trước kia, Ông Bà Vương quan Trân sanh con rất khó nuôi, nên phải ra tận kinh thành Huế, thỉnh lư hương cầu tự nơi Miếu Bà Cửu Thiên Huyền Nữ về thờ, mới có thai sanh ra Cô Vương thị Lễ.
Lớn lên, Cô Lễ theo học tại trường Trung Tiểu học Pháp Sainte Enfance, tới bậc Trung học. Cô Lễ rất được cha mẹ thương yêu chiều chuộng, lại rất hiền hòa hiếu thảo, càng lớn càng đẹp. Đến tuổi cập kê, có nhiều gia đình danh giá đến dạm hỏi, nhưng Cô nhứt định chưa muốn có chồng. Cha mẹ Cô cũng chiều ý con, không hề ép uổng.
Bỗng một hôm, Cô lâm bịnh bất ngờ. Người nhà vội rước lương y điều trị, nhưng bịnh tình không thuyên giảm.
Hễ cha mẹ Cô nghe nơi nào có thầy hay thuốc giỏi thì liền tìm tới rước về để trị bịnh cho Cô, không kể tốn hao. Nhưng bịnh của Cô cũng không hết. Kịp hay tin có một bác sĩ học rất giỏi từ bên Pháp mới trở về Việt Nam, ông bà Vương quan Trân tìm biết đó là con trai của một người quen cũ không thân lắm, nhưng thỉnh thoảng cũng có tới lui. Ông Bà đích thân đến chào người quen cũ ấy và hỏi thăm về cậu Bác sĩ, yêu cầu cậu Bác sĩ vui lòng đến xem mạch và trị bịnh cho con gái mình.
Nhận thấy cậu Bác sĩ cũng có dáng khôi ngô, ông bà Vương quan Trân mới nói rằng : Khi Bác sĩ trị bịnh cho con gái tôi hết bịnh rồi thì chúng tôi sẽ gả con gái cho Bác sĩ.
Cậu Bác sĩ nghe vậy thì hơi đỏ mặt, vui vẻ nói :
- Cháu xin cố gắng hết sức, còn việc kia, thì ba má cháu sẽ bàn tính với hai bác, nếu hai bác thương tình.
Nói xong, cậu Bác sĩ xin phép cho người nhà hướng dẫn vào thăm bịnh nhân, nhưng liền đó, người giúp việc hớt hãi chạy ra báo cáo : Bà ơi ! Cô làm sao lạ lắm, nghe Cô ực lên một tiếng rồi nằm im luôn, hai mắt nhắm nghiền.
Mọi người chạy nhanh đến phòng của Cô. Vị Bác sĩ lật đật xem mạch, thấy mạch còn rất yếu, trong giây phút thì tắt hẳn. Vị Bác sĩ đứng yên lặng ngắm nhìn khuôn mặt xinh đẹp của Cô lần đầu tiên mà cũng là lần cuối cùng, để nghe tim mình rung động bàng hoàng, giữa tiếng khóc thảm thiết của Bà Vương quan Trân và những người thân yêu.
Mối oan tình giờ đây đã giải xong, chỉ một lời nói thôi cũng đủ. Ngày Cô mất là ngày 25-10-Mậu Ngọ (dl 28-11-1918) hưởng dương được 19 tuổi.
Mộ của Cô Vương thị Lễ ở trong khuôn viên đất của gia đình Tổng Đốc Đỗ hữu Phương, thường gọi là Vườn Bà Lớn, ở gần Ngã Bảy Sài gòn. Năm Mậu Thân 1968, mộ được lấy cốt và thiêu, lấy tro cất vào hủ để thờ. Đất ấy được trưng dụng để xây cất Chung cư Nguyễn Thiện Thuật ở Quận 3 ngày nay.
Năm Ất Sửu (1925), thời kỳ mới khởi sự Xây Bàn để thông công với cõi vô hình, 4 Ngài : Cao quỳnh Cư, Cao quỳnh Diêu, Phạm công Tắc và Cao hoài Sang, xây bàn đêm mùng 10-6-Ất Sửu (dl 30-7-1925) tại nhà Ngài Cao hoài Sang gần Chợ Thái Bình Sàigòn, Cô Vương thị Lễ giáng bàn, mượn danh Đoàn ngọc Quế, cho bài thi tự thuật như sau :
Cúi lạy thân sinh thứ lỗi con,
Âm Dương tuy cách, hiếu tâm còn.
Hồn quê níu nắm tình non nuớc,
Phách quế náo nương dạ sắt son.
Ác lặng hiên đoài già nhắc nhỏm,
Nguyệt trầm non Thái trẻ thon von.
Thấy nhau thêm tủi đường ly biệt,
Đá nát xương tan nghĩa vẫn còn.
Hỏi ai có biết hiếu ra sao ?
Chín chữ cù lao giá thế nào ?
Hình vóc cảnh Tiên còn dính máu,
Chơn thần nước Phật giữ thai bào.
Nỗi riêng chưa vẹn thân từ phụ,
Nghĩa nặng đeo đai phận má đào.
Thà xuống Âm Cung chia khổ tội,
Cha vầy, ai nỡ ngự đài cao !
Hai kiếp đeo đai lắm nợ trần,
Cái thân vì khổ bận cho thân.
Niềm duyên đổ ngọc lan phòng nguyệt,
Nỗi hiếu rơi châu tưới mộ phần.
Giữ Đạo mong chờ ngày độc tịch,
Bán mình quyết cứu độ song thân.
Nước non càng ngắm càng thêm chạnh,
Chạnh thảm khi mang mảnh xác trần.
THẤT NƯƠNG
Bần tăng tả cảnh khổ trên đây để các bạn nhập tâm ghi nhớ.
Thất Nương là một vị Nữ Phật thứ 7 trong hàng Cửu vị Nữ Phật mà còn không tránh khỏi khổ. Đó là bài học của tâm hồn trí não, nếu tránh được khổ thì trên con đường lập vị, chúng ta rất may duyên sẽ gặp đặng Đức Chí Tôn mà hằng ngày Người hằng trông ngóng. "
Trong số Cửu vị Tiên Nương Diêu Trì Cung (hay Cửu vị Nữ Phật), chỉ có Bát Nương và Thất Nương là thường giáng cơ dạy Đạo và cho thi văn nhiều nhất, kế đó là Lục Nương. Còn các vị khác thì ít khi giáng cơ.
THẤT NƯƠNG giáng cơ dạy về PHƯỚC THIỆN :
Hộ Pháp Đường, ngày 3-2-Đinh Hợi (dl 23-2-1947).
Nhơn đạo rày đã suy vi,
Chay lạt dời đổi còn chi tu hành.
Mang câu thất hiếu đã đành,
Bao nhiêu công quả biển gành rã tan.
Làm cho thau nọ nên vàng,
Chì kia lộn bạc lại mang tiếng đời.
Càng ngày xa lánh Đạo Trời,
Đem thân vùi lấp vào nơi bụi trần.
Chơn linh lắm chịu mê tân,
Sanh tiền khó hưởng phước lành Trời ban.
Rồi đây giặc giã khắp tràn,
Khiến đường Đạo đức chịu đàng Thiên tai.
Cả kêu thức tỉnh hỡi ai !
Thành tâm hối ngộ Cao Đài cứu nguy.
Nếu mà dụ dự kiên trì,
Phải cam chịu lấy nạn nguy buổi nầy.
Phước Thiện Trời bày ra đây,
Đặng mà cứu khổ buổi nầy loạn ly.
Nhựt Đức lại với Tàu Tây,
Gây trường huyết chiến tới đây bây giờ.
Bình Dương lập trận sờ sờ,
Cả chư vạn quốc dựng cờ chiến tranh.
Đánh nhau đổ nước nghiêng thành,
Lưu hồng một trận tan tành nhơn gian.
Thây phơi chật đất đầy đàng,
Cao Đài xuất hiện cứu an dân Trời.
..........................
Chiêu an thế giới khắp nơi hòa bình.
Người tu thì được khương ninh,
Kẻ vô đạo đức chôn mình vực sâu.
...........................
Ăn chay chuộc tội khỏi hầu Phong Đô.
Phước Thiện cứu cấp đơn cô,
Phước Thiện lựa những tăng đồ Chí Tôn.
...........................
Phước Thiện để rước chơn hồn nguyên nhân.
Phước Thiện chứa thuốc kim đơn,
Phước Thiện cứu thế khỏi cơn thảm sầu.
Phước Thiện độ cả hoàn cầu,
Phước Thiện có thể gồm thâu lợi quyền,
Phước Thiện của chung chẳng riêng,
Phước Thiện để rước bực hiền chơn tu.
Phước Thiện cải ác phá ngu,
Phước Thiện giải khổ tội tù Phong Đô.
Phước Thiện là vốn Phạm Môn,
Phước Thiện là cửa vĩnh tồn Phật Tiên.
Phước Thiện thống nhứt qui nguyên,
Phước Thiện là vốn chuồng chiên của Trời.
Phước Thiện bảo dưỡng khắp nơi,
Phước Thiện lập để cứu đời chúng sanh.
Phước Thiện là phước Trời dành,
Để cho nhơn loại lập mình cửa tu,
Phước Thiện để rước ngoại bang,
Phước Thiện sản nghiệp bảo toàn thế gian.
Phước Thiện gầy dựng giang san,
Cả chư vạn quốc đồng sang phục tùng.
Phước Thiện bảo hộ người cùng,
Việt Nam làm chủ vẫy vùng tự do.
Phước Thiện nuôi nấng ấm no,
Phước Thiện vào đặng khỏi lo rách lành.
Phước Thiện hồn đặng cao thăng,
Về nơi Cực Lạc trường sanh đời đời.
Phước Thiện là chốn thảnh thơi,
Trở nên Thánh đức ra đời Tân Dân.
Phước Thiện nuôi nấng tinh thần,
Phước Thiện cứu kẻ lạc gần Bàng môn.
Phước Thiện báu quí Càn khôn,
Độ các Chi phái nhập môn hồi đầu.
Phước Thiện huyền diệu cao sâu,
Lập công chuộc tội mới hầu khỏi oan.
Phước Thiện cứu kẻ ngỗ ngang,
Độ Chi phái nghịch dễ dàng cảnh tu.
Phước Thiện giải tán nghịch thù,
Lấy câu hòa thuận vận trù lập công.
Phước Thiện nay chuyển Đại đồng,
Phá tan giặc giã giao thông hoàn cầu.
Phước Thiện là phép nhiệm mầu,
Tóm thâu thiên hạ hồi đầu cửa tu.
THĂNG

Ngày mùng 6-Giêng-Nhâm Thìn (dl 1-2-1952).
Phò loan : Luật sự Hưởng + Luật Sự Trường.
Chị chào mấy em. Chị Bát Nương đã chỉ các em khi nảy, các em còn nhớ không ?
Các em cố giữ vững Đức tin thì các em sẽ nhìn thấy lời hứa của Chí Tôn ra thế nào. Có khó mới có công được chớ, nếu dễ dàng, ai làm chẳng được, mà làm được cũng là việc thường, có gì gọi rằng phi phàm.
Các em đã rõ biết cảnh khó dễ của quyền Đời trước kia mà hôm nay đến đó cũng là việc thường. Các em trông, mà tới thì lại sợ, thì trông để làm gì ?
Các em hãy vui lên để đón rước con Rồng Vàng (1) mới được. Mọi việc Chí Tôn đã sẵn định cho con cái của Người rồi, chỉ còn đợi coi các đứa con ấy có đủ khôn ngoan để thọ lãnh phần thưởng đó mà thôi.Các em cố nối chí là đoạt được. Con đường đã vạch sẵn, chỉ còn tiến bước theo là xong việc.
Chị có mấy lời chỉ bảo cho các em. Vậy các em nên nhớ mà lo tròn sứ mạng của các em.
Chị xin kiếu. THĂNG.
(Trích trong Luật Tam Thể của Đức Cao Thượng Phẩm và Bát Nương)
(1) Con Rồng Vàng là ý nói : Năm Nhâm Thìn.
CỬU kiếp lo tu mới đặng thành,
NƯƠNG thuyền Bát Nhã hưởng Đài thanh.
Khuyên đời mau ráng bòn âm chất,
Trễ bước đường Tiên chẳng trọn lành.
(26-5-Tân Mùi 1931)
CỬU phẩm tòa vàng mới bước sang,
NƯƠNG mây nay đến trước xem đàn.
Đôi lời cầu chúc mừng huynh tỷ,
Khá dắt dìu nhau bước rập ràng.
(1-6-Tân Mùi 1931)
Huyền diệu nan tri lý diệu huyền,
Phong ba chưa dễ lắng đường duyên.
Đảnh Tần còn vướng lằn mây bạc,
Biển Bắc đang cơn thọ não phiền.
Bởi chẳng hoàn lương, Đời mới diệt,
Vì chưa tỉnh giấc, Đạo qui nguyên.
Chớ đem chí cả mà phô diễn,
Đợi buổi quyền giao định sửa giềng.
CỬU NƯƠNG

