THÁNH NGÔN HIỆP TUYỂN I & II
Hợp Nhứt & Chú Thích

NGHIÊN CỨU

 

MỤC LỤC

 

NGHIÊN CỨU Hai Quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển I & II

Phần A: Sưu tầm.

Chúng tôi sưu tầm được các quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển sau đây:

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I: Sưu tầm được 8 quyển:

  1. Bản in lần đầu tiên, cuối năm Ðinh Mảo, đầ năm 1928, nhà in Tam Thanh Lê Thiện Phước, Sài Gòn.
  2. Bản in năm Tân Mùi, 1931, Thái Hòa Ấn Quán của Hội Thánh ở Long Thành, Tây Ninh.
  3. Bản in năm Canh Dần, 1950, nhà in Võ Văn Vân, Sài Gòn.
  4. Bản in năm Ất Mùi, 1955, nhà in Hoàng Hải, Sài Gòn.
  5. Bản in năm Ðinh Dậu, 1957, nhà in Hoàng Hải, Sài Gòn.
  6. Bản in năm Giáp Thìn, 1964, nhà in Tuyết Vân, Sài Gòn.
  7. Bản in năm Kỷ Dậu, 1969, nhà in Tuyết Vân, Sài Gòn.
  8. Bản in năm Nhâm Tý, 1972, nhà in Sơn Châu, Sài Gòn, in chung với quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển II, Tân Luật và Pháp Chánh Truyền.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển II: Sưu tầm được 3 quyển:

  1. Bản in lần thứ nhứt năm Quí Mão, 1963, nhà in Tuyết Vân, Sài Gòn.
  2. Bản in lần thứ nhì năm Bính Ngọ, 1966, nhà in Tuyết Vân, Sài Gòn.
  3. Bản in năm Nhâm Tý, 1972, nhà in Sơn Châu, Sài Gòn, in chung với quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I, Tân Luật và Pháp Chánh Truyền.

Chúng tôi được Quí Chức Sắc Tiền Bối cho biết:

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I: Quí Ngài: Ðức Cao Thượng Phẩm, Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu và Ngài Ðầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt, phối hợp tuyển soạn các bài Thánh Ngôn để lập thành Thánh Ngôn Hiệp Tuyển  quyển I, và cho in lần đầu tiên vào cuối năm Ðinh Mão, đầu năm dương lịch 1928.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển II: Ðạo lịnh của Ðức Cao Thượng Sanh số 032/ÐL ngày 14-8-Nhâm Dần (dl 12-9-1926), giao cho Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Ðức lập Ban Ðạo Sử và soạn Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.

Do đó, Ngài Hiến Pháp tuyển soạn các bài Thánh Ngôn, lập thành Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển II, được Ðức Thượng Sanh cho phép ấn hành, bản in lần thứ nhứt vào năm Quí Mão, 1963.

 

Phần B: So sánh các bản Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển II:

Ba quyển in vào ba năm: 1963, 1966, 1972, đều in giống hệt nhau, không có chỗ nào khác biệt.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I:

Hai quyển in vào hai năm: 1928 và 1931 có một vài chỗ khác biệt nhau, xin nêu ra:

  1. Trang 19 Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I -1931 có bỏ một đoạn ngắn gồm 6 dòng: "Bổn hội nghe... Ngọc Hoàng Tự", của trang 19 Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I - 1928.
  2. Trang 49 Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I - 1931 bỏ bài Thánh Giáo "Minh Tân Ðàn" trang 43 của Thánh Ngôn Hiệp Tuyển I - 1928, gồm ba bài nhỏ:
  • Ngã Thái Thượng Lão Quân giáng đàn.
  • Ngã Tề Thiên Ðại Thánh giáng đàn.
  • Lê Sơn Thánh Mẫu.

(Việc bỏ ra bài Thánh giáo Minh Tân Ðàn có phân tích rõ lý do ở Phần D phía sau.)

Như vậy, hai quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển  I -1928 và Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I -1931 có hai chỗ khác biệt nhau, còn các chỗ khác đều giống nhau.

Các quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I in vào các năm khác sau nầy: hoặc là in giống theo Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I -1928, hoặc là in giống theo Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I -1931, kể ra:

In giống Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I -1928: có các quyển in các năm 1955, 1964, 1969, 1972.

Ðặc biệt, quyển 1955, Hội Thánh có in các bài dịch Việt văn ngay phía dưới các bài Thánh Ngôn Pháp văn.

Ngoài ra, các quyển in từ năm 1964 trở về sau, Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Ðức bỏ bớt 20 bài thi Tứ tuyệt Hán văn trong Thi Văn Dạy Ðạo, và có in thêm ở cuối sách 8 bài dịch Việt văn của các bài Thánh Ngôn Pháp văn phía trước.

In giống Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I -1931: có các quyển in năm 1950, 1957.

Ðặc biệt, bản in năm 1950, có đánh số thứ tự các bài Thánh Ngôn, đánh số các bài thi Ðường luật và Tứ tuyệt trong phần Thi Văn Dạy Ðạo, và làm Mục lục Ðại ý.

 

Phần C: Các bài Thánh Ngôn giống nhau trong hai quyển I và II:

Việc tuyển soạn hai quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I và II được thực hiện vào hai thời kỳ khác nhau: năm 1928 và năm 1963, cách nhau 35 năm (1963-1928 = 35 năm), với các Chức sắc Ðại Thiên Phong khác nhau tuyển soạn, nên có 4 bài Thánh Ngôn trùng nhau giữa quyển I và II, kể ra:

  1. Bài Tà Dâm Giái, trang 29 Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I -1928 trùng với bài Bất Tà Dâm, trang 64 Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển II -1963.
  2. Bài Giái Tửu, trang 64 Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I -1928 trùng với bài Bất Ẩm Tửu, trang 65 Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I -1963.
  3. Bài Thánh Ngôn của Ðức Quan Âm Bồ Tát trang 74 Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I -1928 trùng với bài Thánh Ngôn trang 33 Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển II -1963.
  4. Bài Thánh Ngôn của Ðức Chí Tôn trang 83 Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I -1928 trùng với bài Thánh Ngôn trang 37 Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển II -1963.

Ngoài ra, trong phần Thi Văn Dạy Ðạo có 3 bài thi Ðường luật (8 câu) trùng với 3 bài thi trong phần Thánh Ngôn, kể ra:

  1. Bài thi "Cậy kẻ dạy con cũng lẽ thường" trang 115 Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển II -1963 trùng với bài thi trang 52 cùng quyển.
  2. Bài thi "Rừng thiền nhặt thúc tiếng chuông trưa" trang 116 Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển II -1963 trùng với bài thi trang 34 cùng quyển.
  3. Bài thi "Dặm dài bước lạ nẻo chưa quen" trang 120 Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển II -1963 trùng với bài thi trang 14 cùng quyển.

 

Phần D: Tại sao bỏ bài Thánh giáo Minh Tân Ðàn?

Bài Thánh giáo "Minh Tân Ðàn" in trang 46-47-48 Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I -1928 gồm ba phần: Thái Thượng Lão Quân, Tề Thiên Ðại Thánh, và Lê Sơn Thánh Mẫu.

Muốn trả lời câu hỏi tại sao, chúng ta đọc kỹ nội dung của bài Thánh giáo nầy.

Phần 1: Ngã Thái Thượng Lão Quân giáng đàn.

Ðức Thái Thượng Lão Quân xưng mình là Thầy, khuyên Chư Nhu hãy cầu Ðạo cho sớm, vì Tam Giáo Ðạo sắp ngưng lại hết.

Phần 2: Ngã Tề Thiên Ðại Thánh giáng đàn.

Tề Thiên Ðại Thánh xưng mình là Thầy, gọi các Môn đệ là các con. Ngày dạy gia đình Ông Lê Văn Khá (hay Lê Minh Khá), gồm vợ là Bà Nguyễn Ngọc Tâm, và các con của hai Ông Bà là Lê Ngọc Ý, Lê Văn Vị, Lê Văn Trân, Lê Ngọc Trinh. [Lê Văn Trân cưới Cô Vương Thanh Chi, con gái Ông Vương Quan Kỳ (Thượng Giáo Sư). Ông Khá và Ông Kỳ là sui gia với nhau.]

Phần 3: Lê Sơn Thánh Mẫu.

Lê Sơn Thánh Mẫu cũng xưng mình là Thầy, gọi các Môn đệ Nữ phái là các con, dạy Nữ phái Minh Tân có những câu sau:

"Trước khi Thầy dạy Ðạo phụ nữ, Thầy phải cho chúng Ðạo Việt Nam rõ trước, vì Ðại Ðạo hoằng khai, song khai cũng có thời kỳ chớ không phải khai hoài. Nay Ðại Ðạo gần mãn, nên Sư phụ của các con cậy Thầy độ phái nữ Minh Tân ...."

"Cầu Ðạo rồi lãnh kinh về nhà mà đọc, chớ đàn bà và con gái mà chường mặt ra thập mục sở thị thì có tốt gì! Tuy ai muốn thì Thầy cũng không cấm, nhưng mà nơi Minh Tân Nữ Phái thì Thầy nói ngay rằng: Các con cứ ở nhà mà tụng kinh hoài thì cũng xong vậy. Còn khi đi chùa cũng lạy rồi thì về, khi nào có đàn thì đến mà nghe dạy."

Nhận xét:

- Thứ nhứt: Các Ðấng ấy xưng mình là Thầy.

Ðiều nầy không phù hạp với tinh thần của bài Thánh Ngôn sau đây của Ðức Chí Tôn: (Trích trong Phổ Cáo Chúng sanh ÐÐTKPÐ, ngày 15-10-1926, trang 4)

"Có 2 vị Ðạo hữu: Tương, Kinh (Thượng Chưởng Pháp Nguyễn Văn Tương và Thượng Giáo Sư Nguyễn Văn Kinh) vẫn trước khi nhập môn thì đã thọ nghĩa thầy trò cùng vị Lão thành pháp danh Ðạo Quang (Ngọc Chưởng Pháp Trần Ðạo Quang) nơi chùa Minh Ðường (Hạnh Thông Tây) (Chùa Linh Quang Tự ở Gò Vấp). Nhằm ngày 21 tháng 8 năm Bính Dần (dl 27-9-1926), Ngọc Hoàng Thượng Ðế giáng cơ tại chùa ấy dạy việc, luôn dịp Ngài có để lời rằng: Tương, Kinh, con phải lạy Ðạo Quang trước mặt Thầy, rồi từ đây gọi là Anh mà thôi, còn Thầy duy có một Thầy."

Như vậy, trong thời Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, chữ Thầy duy chỉ được dùng cho Ðức Chí Tôn mà thôi.

- Thứ nhì: Ðức Quan Âm Bồ Tát là Ðấng đã cứu độ Tề Thiên Ðại Thánh, là Nhị Trấn Oai Nghiêm của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, mà khi giáng cơ vẫn xưng mình là "Thiếp", gọi các Ðạo hữu là "Các em". (Xem các bài Thánh Ngôn số 109, 160, 161, 162 của Ðức Quan Âm Bồ Tát)

- Thứ ba: Tề Thiên Ðại Thánh gần như dạy riêng gia đình Ông Lê Văn Khá, Chủ Trưởng Minh Tân Ðàn, và gia đình của Ông gồm vợ và các con, nên không có tính cách dạy chung các Môn đệ.

- Thứ tư: Lê Sơn Thánh Mẫu dạy Nữ phái cứ ở nhà tụng kinh, không nên đi ra ngoài hành đạo, thì không thích hợp với việc hành đạo của Chức sắc Nữ phái CTÐ, nghĩa là nhiệm vụ của Nữ phái cũng quan trọng như Nam phái, là phải đi phổ độ nhơn sanh.

Các Chức sắc tiền bối có lúc cho in bài Thánh giáo Minh Tân Ðàn vào Thánh Ngôn Hiệp Tuyển , có lúc lại bỏ ra không cho in vào Thánh Ngôn Hiệp Tuyển , chứng tỏ rằng, ý kiến của quí vị chưa thống nhứt nhau.

Nhưng với 4 nhận xét phân tích vừa nêu trên, việc bỏ ra bài Thánh giáo Minh Tân Ðàn là hợp lý, để cho Giáo lý của Ðạo Cao Ðài được thuần nhất, xuyên suốt từ đầu chí cuối.

 

Phần E: Trình bày sự sắp đặt mới trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển là một quyển Kinh Thánh quan trọng nhứt của Ðạo Cao Ðài, bao gồm các điểm chánh yếu về Giáo lý, Triết lý, và lịch sử của Ðạo Cao Ðài, để từ đó phát xuất ra Pháp Chánh Truyền, Tân Luật, và cách Thờ phượng của nền Tân Tôn giáo.

Các Chức sắc Ðại Thiên Phong tiền bối đã tuyển soạn Thánh Ngôn của Ðức Chí Tôn và của các Ðấng Thiêng Liêng giáng cơ ban cho, in thành hai quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I và II: Quyển I in lần đầu tiên vào năm 1928, và quyển II in lần thứ nhứt vào năm 1963, cách nhau một khoảng thời gian dài là 35 năm. Do đó, các bài Thánh Ngôn tuyển soạn sắp đặt theo ngày tháng năm giáng cơ không được chặt chẽ lắm, việc đối chiếu giữa âm lịch và dương lịch nhiều chỗ không chính xác, nhứt là có nhiều bài Thánh Ngôn trùng lập trong hai quyển.

Các Chức sắc tiền bối của chúng ta đã dùng hết thời giờ để lo củng cố và phát triển nền Ðạo, lớp thì lo đối phó với nạn phân rẽ trong nội bộ Ðạo, lớp thì lo đối phó với các thế lực áp chế từ bên ngoài, nên chưa có thì giờ để hệ thống hóa Giáo lý và làm Lịch sử Ðạo.

Do đó, chúng tôi làm thử công việc sát nhập hai quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I và II, làm thành một quyển duy nhứt, với sự sắp xếp như trình bày dưới đây:

  1. Chúng tôi sắp đặt lại các bài Thánh Ngôn trong hai quyển theo thứ tự ngày giáng cơ một cách chặt chẽ, có đánh số thứ tự từng bài. Những bài Thánh Ngôn nào không có ngày tháng giáng cơ, mà có năm thì chúng tôi đặt vào cuối năm đó.
  2. Việc đối chiếu dương lịch và âm lịch, chúng tôi sử dụng sách Lịch 200 năm (1780-1980) của Nguyễn như Lân.

Thời sơ khai nền Ðại Ðạo, các Chức sắc Ðại Thiên Phong tiền bối đều là công chức, nên thường ghi ngày thứ trong tuần lễ và ngày dương lịch. Do đó, chúng tôi đặt dương lịch trước, và sau đó đối chiếu lại ngày âm lịch. Những bài Thánh Ngôn nào có đề ngày thứ bằng Pháp văn (thí dụ như: Lundi, Jeudi, Samedi, ......) thì chúng tôi lấy ngày thứ ấy làm chuẩn để xác định ngày dương lịch, và sau đó, đối chiếu ra ngày âm lịch.

  1. Chúng tôi bỏ bớt 4 bài Thánh Ngôn trùng nhau giữa quyển I và quyển II, và bỏ bớt ba bài thi Ðường luật (8 câu) trùng nhau trong phần Thi Văn Dạy Ðạo, như đã trình bày trong phần C.
  2. Chúng tôi cũng bỏ bớt bài Thánh giáo Minh Tân Ðàn, như đã trình bày trong phần D.
  3. Các bài Thánh Ngôn bằng Pháp văn, chúng tôi lấy các bài dịch Việt văn của Hội Thánh (ở cuối quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I -1964), đặt thành song ngữ Pháp-Việt, cho người đọc được dễ dàng so sánh với Pháp ngữ. Ðây không phải là sáng kiến, vì trong quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I -1955, Hội Thánh đã đặt bài dịch Việt văn ngay sau bài Pháp văn.
  4. Chúng tôi rất thận trọng gìn giữ nguyên văn Thánh Ngôn của Ðức Chí Tôn và các Ðấng Thiêng liêng giáng cơ ban cho, chỉ khi nào có chữ in sai chánh tả, thì chúng tôi mới sửa lại theo đúng luật chánh tả hiện thời (năm 2000).
  5. Sau mỗi bài Thánh Ngôn, chúng tôi có viết phần Chú Thích, để giải nghĩa một cách vắn tắt một số từ ngữ Hán văn khó hiểu hay là điển tích, giúp độc giả được dễ dàng trong việc đọc và hiểu Thánh Ngôn.
  6. Chúng tôi đối chiếu các bài Thánh Ngôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển  với Thánh Ngôn (nếu có) in trong hai quyển Ðạo Sử I và II của Bà Nữ Ðầu Sư Hương Hiếu, và các tập Thánh Ngôn chép tay của Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu, Ngài Ðầu Sư Thái Thơ Thanh, và Bà Nữ Ðầu Sư Hương Hiếu, để tìm ra tên của những vị tiền bối mà trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển viết tắt, đồng thời kiểm tra ngày tháng năm và nơi giáng cơ, ghi thêm tên hai vị Phò loan; ngoài ra, cũng để bổ sung những chỗ nhiều chấm ( ....) trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, mà thuở đó, Hội Thánh không tiện công bố đầy đủ chi tiết.
  7. Phần Thi Tập trong quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển II, chúng tôi đặt ngay sau bài Thánh Ngôn cuối cùng số 169.

Phần Thi Văn Dạy Ðạo, chúng tôi đặt sau Phần Thi Tập và chia làm hai nhóm:

  • Nhóm những bài thi Ðường luật (8 câu) thì đặt trước, gồm 9 bài của quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I và 37 bài của quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển II, tổng cộng được 46 bài.
  • Nhóm những bài thi Tứ tuyệt (4 câu) thì đặt sau các bài thi Ðường luật: quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển I có 126 bài (trong đó có 20 bài thi Hán văn đã được Ngài Hiến Pháp bỏ ra, nay chép bổ sung cho đầy đủ) và quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển II có 70 bài, tổng cộng 196 bài thi Tứ tuyệt.

Các bài thi trong mỗi nhóm đều được đánh số thứ tự, để người đọc dễ trích dẫn sau nầy.

 

Phần Kết.

Vì lòng tín ngưỡng mạnh mẽ nền Ðại Ðạo của Ðức Chí Tôn, vì lòng yêu mến và tôn kính Giáo lý Chơn truyền của Ðức Chí Tôn, vì sự quan trọng vào bậc nhất của quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, là Thánh Kinh của Ðạo Cao Ðài, chúng tôi cố gắng sắp xếp có hệ thống các bài Thánh Ngôn của Ðức Chí Tôn và của các Ðấng Thiêng liêng, theo thứ tự ngày giáng cơ, đánh số từng bài rõ ràng để độc giả dễ trích dẫn.

Ðây không phải là việc làm có ý muốn cải sửa Chơn truyền của Ðạo, hay sửa đổi việc làm của Hội Thánh trước đây, nhưng chúng tôi nghĩ rằng, các Chức sắc tiền bối đã quá bận tâm xây dựng nền Ðạo, phải lo đối phó các thế lực ép đè của đời, giải quyết các biến cố trong nội bộ Ðạo, nên chưa có thì giờ để hệ thống hóa Giáo lý và Triết lý của Ðạo.

Do đó, chúng tôi hằng cầu nguyện Ðức Chí Tôn, Ðức Phật Mẫu và các Ðấng Thiêng liêng hộ trì, để cố gắng đem hết sức giúp vào việc hệ thống hóa nầy, được phần nào hay phần nấy, như lời Thánh Ngôn của Ðức Chí Tôn đã dạy trong bài Thánh Ngôn số 74:

"Vậy Thầy khuyên các con, đứa nào có trí lực bao nhiêu, khá đem ra mà thi thố, chớ đừng sụt sè theo thói nữ nhi, vậy cũng uổng cái điểm linh quang của Thầy ban cho các con lắm."

Trong công việc hoàn thành bước đầu quyển sách nầy, chúng tôi được sự quan tâm của nhiều Chức sắc, và thân hữu, đã giúp cho rất nhiều ý kiến tích cực và quí báu để chúng tôi sửa chữa các lỗi chánh tả và nhất là phần Chú Thích.

Chúng tôi chân thành tri ân quí vị, và mong mỏi quí vị tiếp tục quan tâm góp ý để hoàn thành quyển sách nầy, hầu hiến dâng cho Hội Thánh toàn quyền sử dụng. Ðó là tâm nguyện của chúng tôi.

Nay kính.
Hiền Tài Nguyễn văn Hồng
cẩn bút

 

Những Bài Thánh Ngôn Quan Trọng:

Bài 1: Tên 12 môn đệ đầu tiên
Bài 5: Ý nghĩa Thiên Nhãn
Bài 9: Cuộc Thiên phong đầu tiên - Lập Minh Thệ.
Bài 16: Ðức Chí Tôn dạy Nhạc Lễ cúng Ðại đàn.
Bài 27: Ðức Chí Tôn lập Tịch Ðạo
Chức sắc Nam phái CTÐ.
Bài 33: Làm Quả Càn Khôn và 7 cái Ngai.
Bài 34: Quốc Ðạo.
Bài 36: Ðức Chí Tôn dạy lập Tờ Khai Ðạo.
Bài 50: Ðức Chí Tôn lập Tịch Ðạo
Chức sắc Nữ phái CTÐ.
Bài 51: Ðức Chí Tôn lập Pháp Chánh Truyền CTÐ Nam phái.
Bài 65: Con người khi chết đi về đâu?
Bài 68: Ðức Chí Tôn dạy lập Tân Luật.
Bài 77: Ðức Lý Giáo Tông dạy cách dâng Tân Luật.
Bài 91: Ðức Lý Giáo Tông lập Pháp Chánh Truyền CTÐ Nữ phái.
Bài 95: Ðức Chí Tôn lập Pháp Chánh Truyền HTÐ.
Bài 101: Ðức Chí Tôn dạy lập Tòa Thánh tại Tây Ninh: Chi chi cũng tại Tây Ninh đây mà thôi.
Bài 103: Ðức Lý Giáo Tông dạy vị trí và kích thước xây cất Tòa Thánh.
Bài 118: Ðức Chí Tôn ra lịnh Ngưng Cơ Bút Phổ Ðộ.
Bài 140 đến 144: Ngũ Giới Cấm:
Bài 157: Quyền Vạn Linh.
Bài 159 -165: Âm Quang là gì? Bát Nương giải thích về Âm Quang.
Âm Quang là gì? Thất Nương giải thích thêm về Âm Quang.
Bài 164: Ngọc Hư Cung trở pháp, giao quyền điều hành nền Ðạo cho HTÐ.

[ Hình Bìa ]

Last changed: 27-07-2003