
LỜI THUYẾT ÐẠO của ĐỨC HỘ-PHÁPNăm BÍNH TUẤT- ĐINH HỢI (1946-1947)Quyển Nhứt
|

Tinh là gì ? Tinh là con người hửu-hình tức là xác thịt ta.
Ba mốn báu ấy tương-liên với nhau, bởi vì mỗi Bửu có Thể-pháp riêng, mà ba xác ấy hiệp lại mới tạo thành hình-ảnh con người.
Bây giờ phân ra : Tinh là Vật, tức nhiên là con vật là thú, như các con thú khác, nghĩa là hình xác đứng về hàng phẩm thú. Khí là trí-não ta. Thần là chơn-linh sản xuất nơi Chí-Tôn. Ba cơ-quan tương-liên nhau, có khi làm trung-gian. Khí là trí-não ta, nó đáo đến địa giới hiệp cùng chơn-linh cho huệ trí. Trái lại, nếu nó không tương liên với linh-hồn đặng thì nó lại tương-liên với xác thịt, nghĩa là nhập vào giác tánh của con người. Giác tánh là gì? Giác tánh là trí não thô-sơ, nó chỉ biết sống như con vật. Tỉ như con thú kia mới sanh ra chưa biết gì mà đã tìm vú mẹ, đặng bảo trọng sanh mạng của mình . Luật bảo-sanh biểu nó tìm bao-nhiêu đó để sống mà thôi. Ba món báu ấy tương-liên với cả càn-khôn vũ-trụ, Thần tương-liên với Phật tức là Chí-Tôn, Khí tương-liên với Pháp, còn Tinh tương-liên với Tăng tức là với vật loại.
Aáy vậy duy-vật là xu-hướng theo Tinh, còn duy-tâm tức là thuyết hửu-thần tương-quan với Phật là Chí-Tôn . Bình thường các tôn-giáo, đặt ra tên nầy, danh nọ đủ thứ, chí lý là tìm Đấng tạo sanh vạn-vật , lấy hình của Người mà tạo ra linh-quang của loài người tức là cha linh-quang của chúng ta, hay là Cha của vạn loại đó vậy . Bởi vậy, các Tôn-giáo , nhứt là Thiên-Chúa-giáo nói : Con người là Thiên-thần bị hảm tu,ø bởi chơn-linh của chúng ta với Thiên-thần đồng chất với Chí-Tôn . Mang lấy xác thịt nầy tức là ở trong cái khám vật-loại. Còn Phật-giáo cho ta hiểu ba ba báu ấy chẳng khác nào như người cỡi ngự với con ngựa . Con ngựa ấy là con kỵ vật tức là Tinh, Pháp là dây cương con ngựa , mà trọng-yếu hơn hết là đồ bắt kế con ngụa là hàm thiết , chưn-đưng kềm con ngựa chạy ngay con đường mình muốn tức là Tinh. Người cỡi ngựa là chơn-linh ta , nghĩa là Thần , Thần là hình ảnh của Chí-Tôn tạo cho ta, vì cớ con người có cao-vọng chưa đạt được thì cao-trọng , chưa đắc huệ-trí mà tưởng mình là Ông Trời con, nên luôn luôn muốn làm Ông Trời hơn, hết. Tại sao vậy? Có khó gì đâu mà không hiểu: Đứa học trò ngồi trong lớp thấy ông quan vô , có kỉnh sợ chi đâu , mà tự nói thầm rằng : ông làm quan được trước, tôi cũng làm quan được, trừ khi nào ném sách vở ra chăn trâu , thì mới hết phương làm được.
Chơn-linh biết mình muốn tu hầu làm Thần, Thánh, Tiên, Phật cũng có thể làm băng được Chí-Tôn mà chớ, bởi vì phẩm-vị Ngài đã dành để sẵn cho các con cái Ngài, nếu ngưòi làm được như Ngài vậy. Bởi vậy dầu chưa làm được ra gì, đã biết mình là Trời tại thế. Có câu chuyện tức cười, bằng cớ hiển-nhiên như Đức Trạng-Trình là Nguyễn-Bỉnh-Khiêm buổi nọ hồi còn bé đi học, có Quan Huyện
đến xét trường hay thăm trường chi đó, nghe noi Ngài nổi danh thần-đồng , khi thấy Ngài nhỏ người, thân không cao lớn hơn ai, lại bận áo rộng xùng xình, vì bận bính của ai đó, lết-bết dưới đất tức cười lắm nên ghẹo chơi. Ông Huyện ra một câu đối như vầy : Học-trò là học trò con, quần áo lon-xon là con học-trò. Ngài liền ứng thinh trả lời liền : Ông Huyện là Ông Huyện thằng, ăn nói lằng-xằng là thằng Ông Huyện. Ngài nói liền, thiên-tứ nhứt-định không chịu thua.
Aáy vậy duy-tâm thì sản-xuất thiên-tài, duy-vật thì sản xuất nhơn-tài. Để rồi sau Bần-Đạo sẽ thuyết ra thiên-tài và nhơn-tài một lần đặc-biệt . Nãy giờ Bần-Đạo đã mở đề cho hiểu xin nên nhớ và nghe giảng tiếp thuyết đại-đồng. Đại-đồng là hiệp một vật loại . Vậy đại-đồng tiến-hoá do căn-bản nơi đâu mà có ? Dám chắc hỏi Đại-đồng là gì ? Không ai giải-nghĩa được . Đại-đồng là đồng sanh tức-nhiên là chúng sanh đó vậy. Ai đã đồng sanh với ta là bạn là anh em của ta . Bởi các vật hửu-hình thọ quyền-năng vô-tận vô-biên của Chí-Tôn, đến thế-gian với một mạng sanh, tức là đồng-sanh dầu vật loại , côn-trùng, thảo-mộc, thú-cầm hiệp với loài người là chúng-sanh, tức nhiên là bạn đồng-sanh cả thảy , hể đồng-sanh ta phải nhìn nhau là anh em trong lòng Chí-Tôn mà sản-xuất, vì nhà Phật cấm chúng ta không đặng sát hại sanh-vật, vì là bạn đồng-sanh của chúng ta.
Vậy hai chữ Đại-đồng là gì ? Thật ý-nghĩa bạn đồâng-sanh, nhìn nhau hiệp một trong nguyên-căn gọi là Đại-đồng. Hỏi thuyết đại-đồng ngày nay xuất-hiện là tại sao? Chúng ta đoán dễ lắm. Cung-kỉnh, tôn-trọng, quý-hoá mạng sanh vạn-loại, loài người đứng phẩm tối cao tối trọng , thay thế hình ảnh Chí-Tôn có quyền-hành làm Chúa Đại-đồng. Loài ngưòi bị tàn-ác, chẳng những sát hai vạn-linh mà thôi , lại chém giết tranh ăn, tranh sống, lấy cường-lực đàn-áp làm căn-bản, dùng bạo tàn làm chúa thiên-ha. Cái thuyết duy-vật là trong khuôn-luật vật-hình nhứt-định, còn thuyết-duy-tâm chỉ có khuôn khổ thiên-nhiên , theo thuyết duy-vật nào là các cường-quốc trên khắp đị-cầu tìm đủ phương-châm luật-pháp, làm cho thiên-hạ hoá ra đại-đồng ấy là điều mơ-màng , vì không hề đạt vọng được . Chưa ai hiểu đặng một người tài-tình quán-chúng , trí-não cao sâu phải hạ mình làm người ngu dốt, Chưa có quyền-năng nào mà đem một đứa ngu dốt lên làm ông Tể-tướng triều-đình , Hàng-phẩm căn-mạng đều do Chí-Tôn sở định . Đã biết không ai ép buộc được , không khuôn luật nào biểu một vị đại văn-sĩ ăn mày ngoài chợ được.
Hể không có hình luật nào làm được , sửa được , thì thuyết đại-đồng thiên-hạ không thành tựu. Thuyết ấy kết liễu được là khi nào lấy thuyết hửu thần duy-tâm làm môi giới chung trong sự yêu-ái tôn-trọng nhau trong tình anh em đồng một căn-bản, một máu thịt, một chủng-tộc. Vì cớ các đấng giáng cơ bên Aâu-châu nói : Loài người sẽ đạt đén địa-vị tối-cao tối-trọng mà họ muốn đạt, là loài người sẽ có nòi-giống một quốc-gia , một Tôn-giáo, ngày giờ nào loài người đạt được ba điều
ấy thì thế-giới đại-đồng kết-liễu thành tướng. Chí-Tôn đến với loài người , Ngự-Mã-quân của Ngài sợ-sệt Ngài xuống trần phải nguy-hiểm . Ngài đến tạo cho loài người một quốc-gia, một nòi-giống, một Tôn-giáo. Nhưng Ngự-Mã-Quân của Ngài không muốn cho Ngài đến, nên thay Ngài đến làm cho ba điều ấy thành tựu nên hình. Nếu ba điều ấy không thành , thì đại-đồng thế-giới là thuyết vẫn còn trong vòng mơ-mộng.

46.- Thuyết Đại-đồng
Đền-Thánh ngày mồng 1 tháng 11 năm Đinh-hợi (1947)
THUYẾT ÐẠI-ĐỒNG
Khí là gì ? Khí là trí não của chúng ta.
Thần là gì ? thần là linh-hồn của chúng ta, Đức Chí-Tôn gọi là chơn-linh. 
47.- Sự tích Đức Chúa Jésus giáng sinh
Đền-Thánh đêm 14 tháng 11 năm Đinh-hợi (1947)
Thảng từ thử đến giờ , có thuyết chia rẽ tinh-thần, là tại nơi người phàm, đem thuyết ấy để trong sự tin-tưởng của sắc dân Aâu-châu, nên mới có sự chia rẽ nòi-giống. Vì nạn ấy mà chúng ta ngày nay thấy trên mặt toàn cầu nòi-giống chịu nạn tương-tàn, tương-sát nhau.
Bần-Đạo xin thuyết cái nguyên-căn của Đức Chúa Jésus Christ là gì ?
Thỉnh-thoảng rồi Bần-Đạo sẽ đem nguyên-căn của Thánh-giáo Gia-Tô thuyết-minh ra cho cả thảy nam nữ đều rõ biết.
Đức Chúa Jésus là ai ? Nếu chúng ta thấy chơn-truyền của dân-tộc Hébreux tức dân Do-Thái bây giờ để lại , theo luật pháp của Thánh Moise đã tiên-tri nói về Đấng Cứu-Thế giáng-sanh , nếu chung ta tìm tòi, lật từ tờ trong Kinh Thánh Gia-Tô chẳng hề thấy tên Christ và chẳng có tên Christ nơi cỏi thiêng-liêng. Bần-Đạo dám chắc Đức Chúa Jésus Christ là chơn-linh Christna là Tam Thế-Tôn đó vậy.
Đức Phật Christna không phải xa lạ với chúng ta, bởi vậy cho nên dã đến mà lại đến với chức-trách nhỏ-nhen , hạ mình hèn-hạ ấy hầu đem tâm-hồn Chí-Thanh của Ngài thức-tỉnh các sắc dân Aâu-châu . Ngài đến nơi một nhà bần hèn. Bần-Đạo xin nói rằng : Ngài đến nhà của bà Maria cốt yếu là là một bà tu trong Đền-Thánh Jérusalem , ông Joseph cũng người tu trong Đền Thánh.. Luật-lệ của Đền-Thánh buộc hễ con gái đến tuổi cập-kê cho ra xuất giá. Năm ấy cô Maria tức là một cô Đạo nữ , chúng ta nói là một ni-cô ở Đền Jérusalem, đến tuổi lấy chồng. Phép Đền-Thánh buộc mấy Thầy tu trong đền thờ phải có người đứng ra cưới, bởi vì chiếu theo lời Chí-Tôn căn-dặn nhủ lời Ngài nói với Adam và Eve buổi nọ (Unissez vous et multipliez) bây phải chung sống cùng nhau đặng biến sanh ra nhiều nữa.
Lễ tuyển chọn chồng cho bà Maria, theo luật Đền Thánh buộc mỗi vị nam lựa bông để trong Đền-Thánh 3 ngày, nếu bông ấy còn tươi-tắng thì được cưới.
Hại thay ! Có nhiều kẻ trẻ trung, còn ông Joseph buổi nọ đã quá 50 tuổi, cũng chịu theo luật cưới ấy. Nếu chúng ta nói đến hoa-khôi lịch-sắc thì bà Maria cũng có thể vào hạng đó. Mới tới tuổi cập-kê mà sắc đẹp ấy làm biết bao nhiêu kẻ nam-nhi ước-vọng. Ông Joseph cũng như mọi người đem bông hoa đến Đền Thờ chịu trách-nhiệm tuyển chọn ấy . Người tìm bông hoa nầy, bông hoa kia, còn ông , ông nghĩ mình đã già rồi , vợ con mà làm chi, nhưng luật Hội-Thánh buộc không làm ắt có hình-phạt , hoặc quỳ hương chẳng hạn (cười…). Bước ra ra khỏi Đền-Thánh , Ông thấy bông huệ khô héo của ai bỏ, ông lượm lấy đem cặm vào bình , không ngờ thứ huệ rất nên kỳ lạ , những bông nụ nở rồi nó rụng đi , còn bông búp bắt hơi nước sống lại , nở tươi đẹp, còn các thứ hoa khác tàn rụi hết, ông phải chịu phép cưới cô Maria
Hại thay ! Nhà tu nếu làm làm lễ cưới rồi phải ra khỏi Đền-Thánh, mà đôi vợ chồng ông đều tu không gia-đình, không nhà cửa, không phương sanh sống, thật rất nên the-thảm.
May thay ! Lúc còn ở trong Đền-Thánh, ông Joseph làm thợ mộc, ông giỏi nghề mộc lắm . Ông mới bàn tính , bây giờ vợ chồng nghèo dắt nhau ra ngoài làm ăn, chồng làm thợ mộc , vợ may vá , mà bà Maria về nữ công rất hay khéo nghề đan (tricoter) , nhờ vậy tìm sự sanh sống cũng tạm được đầy đủ.
Thảng mãn ngày qua tháng lại, hạ sanh con đầu lòng là Jesus. Hai vợ chồng nuôi con với phương-tiện nghèo khổ, nhứt là ngày hôm nay là ngày sanh của Đức Jésus Christ còn để lại dấu-tích cho chúng ta thật đáng để ý hơn hết. Đêm Noel trong Đền-Thánh làm lễ long-trọng như chúng ta làm lễ hôm nay, và hai vợ chồng đi lại từ làng Nazareth vô Đền-Thánh làm lễ. Khi đó bà đã có thai gần ngày sanh, nghĩ mình đã có căn tu, đến ngày đại-lễ không thể ở nhà được m bụng mang dạ chửa, cũng ráng đi đến chầu lễ thường lệ.
Ở Châu-thành nhà cửa bị thiên-hạ mướn chật hết, kiếm không ra chỗ ngủ , không lẽ ở ngoài trời, mới vô năn-nỉ chúng cho ở trong chuồng chiên tạm trú, Trời đang tiết Đông-thiên ,như ngày nay chúng ta nghe cũng hơi lạnh, lạnh-lẽo lạ-lùng nhứt là với hai người tâm Đạo nay vô ngủ trong chuồng chiên rất khổ sớ. Đúng 12 giờ khuya đêm hôm ấy bà chuyển bụng sanh ra Đức Chúa Jéssus Christ.
Trong sách nói, ngày Chúa giáng sanh có vì sao gọi là sao chuổi mọc không gì khác lạ, đó là Comete de Halley, mỗi 75 năm mọc trở lại một lần. Các vị Vươn tiên-tri rằng "ngày nào sao chuổi ấy mọc là ngay Chúa giáng-sanh nên nhớ để dạ tìm Người" . Có nhiều huyền-diệu ta không thể tưởng tượng được như đám chăn chiên đóng trại ngoài trời , bổng nghe giữa thinh-không có nhiều Thiên-Thần kêu nói có Chúa Cứu-Thế giáng sanh, nên vua của dân Maures và các người chăn chiên ấy vô đảnh lễ Chúa đầu tiên hơn hết. Tai hại thay ! Thời buổi đó nước của dân Juifs bị đế-quốc Romains chiếm làm thuộc-địa, ở Palestine thì để một vị chánh-soái là Hérode Antivas hằng để tâm mưu sát Đấng Chúa Cứu-Thế, vì có tiên-tri nói đến làm Vua nước Do-Thái, nên ngay từ buổi đến trấn-nhậm Palestine, chính Hérode đã giết ông Thánh Jean Baptiste.
Buổi ấy các nhà Tiên-tri cho biết Đức Chúa Cứu-Thế sanh ngày đó mà không biết Đấng Chúa Cứu-Thế là ai ? Muồn giết, mà không biết ở đâu ? Nên bắt tất cả con nít sanh trong đêm ấy đem ra giết hết, đinh-ninh rằng trong đám đó có lẽ có Đấng Chúa Cứu-Thế. Ai dè may thay ! Ông Josph đêm mệt mỏi nằm mông thấy Thiên-Thần mách bảo, liền bồng đứa tre trốn qua Egypte. Hai vợ chồng đáo tẩu kịp chớ không thì Chúa cũng bị giết rồi..
Qua Egypte một thời-gian , đúa con lên được 5,6 tuổi, nghe tin bên nước minh đặng yên và có lịnh thiêng-liêng truyền dạy hai vợ chồng trở lại Palestine , chồng làm thợ mộc theo nghề củ, vợ may vá nuôi con, lại sanh thêm ba, bốn người con trai, gái nữa, thành thử cách sống rất nghèo-hèn khổ-não, từ cái đường sông Jourdain Đức Chúa để bước đội nước mỗi ngày giúp mẹ cùng kiếm công một hai cắc.
Buổi nọ là lúc đã trộng rồi , được 12, 13 tuổi, theo cha học làm thợ mộc, ông chỉ đâu làm đó. Khi đó ông Joseph lãnh làm nhà của người ta, rủi cưa cắt làm sao mấy cây cột lỡ cụt hết, người chủ bắt đền không biết liệu làm sao !!! Nhà nghèo tiền đâu mua cột khác đặng bồi thường. Ông ngồi khóc ròng, đoạn Chúa mới cầu-nguyện rồi cha một đầu con một đầu nắm kéo nhẵng ra cho đủ thước đặng bồi thường cho đủ, bằng không thì chỉ có ở đợ mà trừ. Thiệt lạ lùng thay và huyền-diệu thay đó là Đấng Christ hành-pháp lạ lần thứ nhất.
Trong năm 12 tuổi là năm kéo ccootj đó, Jésus vô Đền Thờ buổi nọ chơn-linh Đức Christna giáng-hạ, các vị Giáo-chủ trong Đạo toàn là những Bác-sĩ nghe tiếng đồn danh thần-đồng của Chúa Jésus nên khi vô Đền Thờ, họ xúm nhau lai vấn đạo, Đức Christna giáng-linh , ngồi giữa các vị Giáo-chủ ấy, thuyết đạo làm cho thiên-hạ ngạc nhiên sự lạ.
Hai vợ chông buổi nọ đi chầu lễ Sabat vô Đền-Thánh cúng rồi về, dòm lại Đức Chúa đâu mất, hỏi ai nấy có thấy Jésus không ? Hai ông bà tìm kiếm mãi cũng không thấy con, sợ-sệt, hơ-hải chạy trở lại đền thờ , thấy Jésus ngồi giữa các Bác-sĩ Giáo-chủ đó ngồi chung quanh đương vấn Đạo.
Bữa nọ tình cờ, tuy vẫn lúc còn ở trong Đền-Thánh, Bà có được tin truyền rằng : Bà sẽ cho loài người nơi mặt thế nầy, bởi nơi lòng bà xuất-hiịen ra Đấng Chúa Cứu-Thế, tuy đã biết trước như vậy , nhưng vì chạy kiếm con không thấy, vừa mệt , vùa sợ-sệt đến khi tìm gặp thấy con ngồi thuyết đạo, đã có lòng phiền, bèn kêu Chúa nói:"Sao con làm cho Mẹ khổ-não kiếm con lắm vậy", Đức Chúa lièn nói : "Bà kia, Bà không biết tôi đang làm phận sự của Cha tôi biểu phải làm hay sao ?" Bà mới tỉnh, tự hiểu biết, nên phiền Đức Chúa về lời nói đó. Từ đó khi Chúa về nhà thì cũng như mọi đứa trẻ khác, cũng đi đội nước, cũng đục-đẻo làm thợ mộc , phục tùng cha mẹ hiếu hạnh đủ điều.
Trong nhà em út bất hoà, còn ông Jésus hiếm lắm, tánh hay nhịn-nhục nên mấy người em thường hay ăn hiếp. Ở nhà không yên , ông đi làm thợ lấy tiền vè nuôi cha mẹ lây lất qua ngày.
Đến năm 30 mươi tuổi nghe Saint Jean Baptiste truyền-giáo tại bờ sông Jourdain, cũng trong lúc đó , Đức Chúa đến gạp ông đang giải-oan cho thiên-hạ. Khi vừa thấy Đức Chúa ở xa xa đi đến thì ông đã biết là Đấng Chúa Cuwuws-Thế, mới nói: Từ sáng đến giờ tôi chỉ chờ có một người nầy thôi. Đức Chúa đến thọ phép giải-oan của Ngài. Trong buổi vừa hành-pháp xong Đức Chúa dưới sông Jourdain vừa bước lên thì trên không hiện ra hào-quang sáng-suôt , hiện ra giống như chim bồ-câu trắng sa giữa đầu Chúa, ngay giữa thinh-không có tiếng nói :"Nầy con yêu dấu của ta, cả ân-đức của ta để cho Ngươi đó ". Từ ngày đó, Đức Chúa Jésus là chơn-linh Đấng Christna giáng hạ, cho nên đi truyền-giáo nơi nào , chơn-linh Ngài không phải như ngày sinh-nhật nữa và đã biến thành Chí-Thánh vậy. Ngài là chơn-linh Thánh sông trước mắt cả thiên-hạ đạt cả Đạo-giáo. Ngài quan-sát nơi mặt thế nầy , Đức Jésus Christ không kém thua ai trong hàng Giáo-Chủ . Ngiaf để nhứt tâm lẫn tuát thương sanh yêu-ái người thật nồng-nàn chơn-chất. Đức Thích-Ca thế nào thì Chúa thế ấy. Bởi cớ thiên-hạ thương mến nghe theo Đạo-Giáo của Ngài . Dân Juif các vì Giáo-Chủ buổi nọ , luôn các vua chúa Palestine, thấy Đức Chúa Jésus Christ thuyết đạo-giáo có một chí-hướng chơn-truyền phản-khắc với tôn-chỉ của họ , họ oán ghét, tìm phương giết Chúa , đến đàu-cáo với César rằng :"Người ấy mưu cuộc phản loạn đem bọn Juif ra khỏi sự thống-trị của chế-độ Romain" nhưng họ vu-cáo đủ thứ cũng không được vì thánh-đức của Chúa không thể phạm vào được . Họ lại tìm cách bài-bác luật Đạo, tạo một ban tuyên-truyền làm cho cho nhơn-gian sợ di-hại liên-luỵ không dám gâng Chúa . Mấy Giáo-Chủ (Caiphe) ấy bắt Chúa Jésus giao cho nguyên-soái Pilate lên án tử hình. Tuyên-truyền thế nào không biết cho đến ngày lễ Paaques là ngày thả tù nhơn, có tên Barabbas là tướng hung-dữ, sát nhơn đủ tội mà toàn dân Juif đồng tha bổng, còn Đức Chúa Jésus chúng không tha, lên án tử-hình và đem ra giết, đóng đinh tren cây thập tự.
Cái chết cua Jésus Chrít là gì ? Là Ngài đem xác Thánh trọng quý dâng cho Chí-Tôn làm tế-vật , xác Thánh chết trên Thánh-giá là lễ tế đồng thể với Tam-Buwuwr của chúng ta dâng lên Đức Chí-Tôn ngày nay đó vậy.
Vậy, Đức Chúa Jésus Christ đã làm con tế vật cho Đức Chí-Tôn đặng cứu chuộc tội lỗi của loài người , nhứt là các sắc dân Aâu-châu, nên danh theerNgaif để hai chữ Cứu-Thế chẳng có chi là quá đáng.
Thật ra Đấng Cứu-Thế ấy là Tam-thế Chí-Tôn giáng-linh tức là Christna tái thế.

48.- Thiên-tài và Nhơn-tài
Đền-Thánh ngày rằm tháng 11 năm Đinh-hợi (1947)
Bần-Đạo đã giảng nhiều phen giảng hình-trạng Tam-Bửu , đã cho cả thảy biết trong mình ta có tam thân , thất phách, chúng ta gọi theo Đạo-giáo là Tinh, Khí, Thần.
Thứ nhứt: Thân thể hửu-hình của chúng ta đây gọi là phàm-thân.
Thứ nhì: Thân-thể khí-chất vô-hình, mắt không nhìn thấy được, nếu thấy được là đạt Đạo, gọi là Pháp-thân.
Thứ ba: Gọi là Linh-thân tức là linh-hồn. Ba món báu ấy chung hiệp nhau lại tạo nên hình ảnh con người.
Nếu ta thấy được thì thân-thể hửu-hình nầy đồâng-thể với vật loại tức là thú vậ. Pháp-thân tương-liên với càn-khôn thế-giới đồng thể với Khí, cả Khí chất Tạo-đoan ra nguyên-do loài người, lấy nguyên-do đó làm thành hình-ảnh của linh-thân chúng ta, còn sự sáng-suốt linh-thiêng là do nơi lòng Đức Đại Từ-Phu. Vậy chia làm ba người trong ta nuôi-nấng xác hình hửu-hình nầy. Pháp thân một mặt giữ-gìn xác thân châu-toàn kiếp sống, một mặt tương-liên với quyền-năng sở-định của các đấng Thiêng-Liêng với Chí-Tôn. Vậy nó chia ra hai lập-trường ;
1.-Lập-trường đối với vật loại.
2.- Lập-trường đối với Chí-Tôn , Pháp-thân phải có tinh-thần trí-thức bổn-năng xu-hướng quyền năng vô-hình, tìm nguyên-căn mình xu-hướng theo Đấng Tạo-Đoan , hiểu hình-thể, biết đi, biết về, gọi bằng huệ tức linh-tâm. Thảng không
biết, chỉ lo bảo-tồn sự sanh sống của vật-loại thôi, thì trở nên giác-tánh. Một đàng linh-tâm, một đàng giác tánh, nó ở giữa.
Bây giờ đã hiểu rồi, Bần-Đạo xin thuyết về "Thiên-tài và Nhơn-tài".
Trí-giác Pháp-thân chúng ta có hai điều xu-hướng, hể xu hướng theo thiên-tư thì đạt được thiên-lương là một khối tài-tình đạt kiếp sống vi-chủ cùng tận hình-thể, việc nầy không gì khác hơn là cái kho ta đựng quyền-năng ta đạt được . Trong phép luân-chuyển kiếp sanh lập kho chất chứa cả tài-vật của chúng ta đạt đặng trong kiếp sanh , nhờ đào-luyện bởi bài học khổ của Tạo-Đoan , năng chịu khổ , giỏi chịu hành hạ khổ não chất chứa . Kho đó còn. Trí vẫn còn.
Trở lại giác tánh , ta thấy gì ? biết bảo-trọng mạng sống như muôn loài, như trâu ăn cỏ , khỉ ăn trái cây , giác-tánh tạo hình xu-hướng theo vật loại thì đè pháp-thân xuống, muốn tìm hạnh-phúc mà thôi, mà tiềm-tàng hạnh-phúc ta tưởng thế-gian nầy nhiều tướng hình , tương-đối với càn-khôn , xác thịt yếu-ớt tìm phương để bảo-vệ không có phương nào không làm, so-sánh với vạn-vật thì con người thua nhiều con vật khác , thua công-khai , như con cọp mà mình kêu ông cọp. Muốn thắng nó đặng thì tìm phương quyết thắng, tạo ra súng ống đặng tự-vệ lấy mình, nên làm chủ nó được . Giác-tánh tìm phương tự-vệ phải xu-hướng theo đường duy-vật.
Nhơn tài ta thấy gì ? Có một kho sách ở thành New-York có 2.000 triệu quyển sách học mưu hay chước khéo, cả thảy tài-tình nhơn-loại cộng thành khối lớn, nhưng chưa hề quyết đoán vận-mạng nhơn-loại được.
Nhơn-tài đã làm gì hạnh-phúc cho nhơn-loại , chúng ta đã thấy dầu cách vật, họ đi tới mức huệ qua không được , trở lại vật hình. Trên kia đã thấy gì ? Họ tìm phương-pháp tương-tàn tương-sát lẫn nhau, có gì khác hơn đâu , bởi duy-vật chỉ làm chúa vật-loại thôi, ấy là nhơn tài. Phương-pháp của con người tìm thế đem cả hình-thể của người lên làm chúa cả vạn-vật, ấy là thuyết duy-vật. Những mưu-chước hay khéo, họ thâu đoạt được để làm chúa vạn-vật thuộc nhơn-tài.
Bây giờ tới thuyết Thiên-tài . Thiên-tài là khi nào Pháp-thân xu-hướng theo nguyên-do căn-bản, tâm-linh của nó. Tự hỏi mình cũng như con vật, sao khôn ngoan hơn vật, sao có linh-tâm, có căn-bản vì đâu ? Tìm kiếm ra căn-bản ấy là Tu. Tu để tìm nguyên-do linh-tâm chúng ta là thiên-lương ta đó, hay khéo hơn hết là ngày giờ nào để trí-thức tinh-thần theo thiên-lương thì mở-mang một cách lạ lùng.
Tại sao khiếu vật-hình không làm trở-ngại vật mà phải cùng ta tự tìm kiếm , tự luyện tinh-thần ấy là Pháp-thân thì đạt huệ, mà đạt-huệ đặng thì đóng khối trong kho vô tận từ thử đến giờ , nếu mở cửa ra được là lấy được , kiếp nầy mang thi-hài xác- thịt có một bài học mà thô, còn các bài học kia nếu chúng ta dở quyển sách vĩnh-sanh ra thì không có gì khuất-lấp được.
Thiên-tài quy-tụ nơi trí ta đặng , không có năng-lực nào nơi mặt thế nầy đối-phó mà ta không thắng. Không nói Thiên-tài ấy đủ quyền-năng tạo hạnh-phúc thi-hài chúng ta mà thôi, lại còn tạo hanh-phúc cho thiên-hạ nữa mà chớ ! Aáy là cơ-quan đạt Đạo. Các Giáo-chủ tại thế nắm Thiên-tài, bảo trọng tinh-thần loài người tức-nhiên cứu người đó, bởi chúng ta thắng vật hình hửu-vi, hửu-hoại nầy . Đêm ngày 24 giờ, thấy chết sống trước mắt, thiệt tướng. Chẳng phải ở cái sống nầy mà ở trong buổi chết, biết bao kẻ khi khổ não cực nhọc thi-hài quá lẽ, chạy theo phương cứu-khổ, tìm không được phải thống-khổ tinh-thần. Muốn an-ủi chúng nó phải đi con đường nào ? Sự thống-khổ có thể an-ủi được trong giấc ngủ, khi thức, mở mắt ra thấy kiếp sống nầy đương đau thảm, ta tìm được phương an-ủi, làm cho binh-tỉnh tâm-hồn, định được thiên-lương chúng ta trong giấc ngủ , khi thức chúng ta đã thấy trường đời đau thảm.
Đã giải rõ hai thuyết Nhơn-tài và Thiên-tài, xem coi bên nào hơn bên nào kém. Hại thay ! những kẻ biết vật không biết hình bóng của vật, chỉ biết vật không biết thiên-lương, bởi cớ, trường đời ta thấy trí-lự nhơn-tài tìm phương tranh-đáu sanh sống, hạnh-phúc hơn người, cả nhơn-tài hiện tướng dữ-dội lần đẹp đẻ có mùi vị quyền-năng trục cả tinh-thần con người theo nó, chưa biết tồn-tại chăng ? Hình ảnh trước mắt cả trương đời đi đến con đường tự diệt , chớ không phải con đường vĩnh-sanh . Nếu chúng ta muốn muốn đạt được quyền vĩnh-sanh thì lấy Thiên-tài làm căn-bản.
Muốn đoạt Thiên-tài không theo ai , không xin ai được hơn là đi theo Đại Từ-Phụ, dầu ta ngu-ngốc thế nào, xin một ngày không đặng thì hai ngày đến một tháng, một năm , nếu theo hoài dầu cho có nhiều xin mà ông cha không thể cho đặng , chúng ta cứ cương-quyết chìu-lòn phục-luỵ, kiên-nhẫn theo hoài, dầu khó cũng phải cho, bởi không nở nào không cho, mà hể Đấng ấy cho rồi không có cái gì ở thế gian này đối với của ấy được.
Lời Bần-Đạo căn-dặn : Mặc ai sang trọng ở trường đời , ta cứ quyết theo Chí-Tôn thì đại-nghiệp không mất, quả quyết đứa con nào của Ngài trọn trung, trọn hiếu với Người và với Hội-Thánh là hình thể của Người tại thế gian nầy, thì không bao giờ thất nghiệp và thất phận.

49.- Dâng Tam-Bửu
Đền-Thánh ngày mồng 1 tháng chạp năm Đinh-hợi (1947)
Khi dâng rượu cầu nguyện :
- "Con xin dâng cả trí-thức tinh-thần của con cho Chí-Tôn dùng phương nào thì dùng".
Khi dâng trà cầu nguyện :
-"Con xin dâng cả linh-hồn cho Chí-Tôn dùng phương nào thi dùng".
Câu chót nếu chúng ta khôn-ngoan nguyện như vầy :
-" Cả linh-hồn, cả trí-não, cả hình-hài con, Thầy đào-tạo đó là của Thầy thì do nơi quyền-hành độc-đoán của Thầy định".
Đó ta cầu nguyện như vậy với Chí-Tôn.
Bần-Đạo đã giảng Tam-Bửu , tại sao Chí-Tôn lấy bông tượng trưng hình-hài, Ngài muốn nhìn con cái của Ngài bằng cái giá-trị tốt đẹp như con mắt ngó thấy cái bông.
Ngài lấy rượu là muốn tinh-thần của loài người cường-liệt như rượu mạnh vậy.
Ngài muốn lấy trà là muốn chơn-linh ta điều-hoà như trà vậy .
Ngài lựa ba món đó cốt yếu là vậy.
Ngày nay Bần-Đạo giảng ba ngôi hiệp nhứt của Đức Chí-Tôn, cả thảy mỗi phen vào Đền-Thánh nắm sanh khí ấy tạo cả cơ-quan hửu-hình nầy, dầu sắc đá cỏ cây, cả thú vật vạn-linh hửu tướng, thuộc về Tăng.
Đạo nầy luật thế nầy, Đạo kia luật thế khác, nhưng không khác hơn Phật-giáo.
Giả thí như Thánh Giáo Gia-Tô cũng có Ba Ngôi (La trinité) : Đức Chúa Cha (Le Père), Đức Chúa Con (Le Fils) và Đức Chúa Thánh Thần (Le Sanit Esprit). Đức Chúa Cha là Phật, Đức Chúa Con là Pháp, Đức Chúa Thánh Thần là Tăng.
Không Đạo-giáo nào thuyết-minh rõ-ràng cơ tạo-đoan lấy thuyết hổn-độn sơ-khai phân chia :
"Khí chi khinh-thanh thượng phù giả vi thiên, Khí chi trọng-trược hạ ngưng giả vi địa". (Khí khinh thanh bay lên trên làm Trời, Khí trong trược ở dưới ngưng kết lại làm đất).
Cả vật-loại hửu tướng nầy có hai quyền-năng sản-xuất:
Cả quyền-năng ông cha chúng ta đào-tạo thế nào ngày nay, quyền-năng Chí-Tôn cũng đào-tạo thế ấy, mà bà mẹ chúng ta thế nào thì mặt luật ấy không khác nào quyền-năng vô-tận của Phật-mẫu dùng đặng đào-tạo Càn-Khôn Thế-giới, chúng ta không biết, không thể đoán được, luật ấy không xa.
Chí-Tôn là Phật, Phật-Mẫu là Pháp, Càn-Khôn là Tăng. Mặt địa cầu nầy đến 3.000 thế-giới cũng là Tăng.
Nắm quyền trị thế là Hạo-Nhiên Pháp-Thiên chính quyền-năng Chí-Tôn định, địa cầu nầy không định khác, chỉ có một mặt Trời nầy không có mặt Trời khác, trong 24 giờ một ngày, Đấng cầm quyền trong pháp-giới là Hư-Vô Cao-Thiên vâng mạng lịnh Hoạ-Nhiên Pháp-Thiên làm cho vũ-trụ khỏi tương-tàn với nhau. Địa-cầu này nếu không mặt luật đạo-đức thì sinh ra bậy-bạ con người không chắc sống.
Bây giờ chúng ta quan-sát Hổn-Nguơn Thượng-Thiên ngày nay Đức Phật Di-Lặc ở nơi Hổn-Nguơn Thượng-Thiên cầm cả hành-tàng Càn-Khôn vũ-trụ, giờ Ngài đương cầm quyền cả vạn loại.
Trước khi nguyện lấy dấu và niệm Nam-mô Phật, Nam-mô Pháp, Nam-mô Tăng, dám chắc thật đích-xác ba Ngôi ấy chưa ai biết rõ.
Ngày nay BâÀn-Đạo giảng : Phật là gì ? Phật là một Đấng toàn-trí toàn-năng, người ta lầm-lạc tưởng không thấy hình dạng là không có người thế-gian lầm-lạc nhiều lắm. Họ quả-nhiên là người sống hiện tại chỉ khác hơn chúng ta là không có thi-hài mà thôi . Đấng toàn-trí toàn năng ấy là Đấng đầu-tiên hiệp lại với Chí-Tôn.
BaÀn-Đạo đã giải nơi Phật có ba cảnh đặc-biệt :
Phật vị có ba đẳng-cấp ấy đặng nắm cả quyền năng Càn-Khôn Thế-giới.
Phi-Tưởng Diệu-Thiên nắm quyền-hành tạo-đoan loài người thuộc Phật, đồng thể với Phật. Phi-Tưởng Diệu-Thiên lãnh phận sự nơi Đức Chí-Tôn cầm nguơn-khí của con người, giữ sanh-mạng vạn-vật kêu là vạn-linh.
Tạo-Hoá Huyền-Thiên thuộc Pháp có ba quyền tạo-đoan thế-giới hửu-hình nầy vô cùng tận. Tạo-hoá cầm sanh-khí để tạo sanh-vật. Tạo-hoá Huyền-Thiên, Phật-Mẫu cầm Pháp chuyển cơ sanh-hoá không cùng tận , cả loài người, cây, cỏ, sắt, đá cũng tấn lên phẩm người nữa là nhờ tay của Đức Phật-Mẫu nắm Pháp biến xuất. Cả thi-hài chơn-linh trí-não pháp-thân luân-chuyển sanh sanh tử tử. Nợ sanh tử ấy là bài học của tạo-hoá trong các cơ-thể ấy, loài người học làm đặng biết , đặng chi ? Đặng tạo Pháp thân huyền-diệu được toàn-thiện toàn-mỹ , toàn trí , toàn năng như Phật-Mẫu đã làm, ta làm đặng học-hỏi tạo pháp-thân do quyền-lực thuộc Pháp, hình-hài xác thịt thuộc Tăng, thây chúng ta thay đổi lăn-lóc trên đường sanh sanh tử tử cũng như Phật ở tối cao tối trọng, gần Chí-Tôn là Hạo-Nhiên Pháp-Thiên , Các đấng ấy hửu sanh hửu tử tri khổ nghiệp chướng vạn-linh, năng du ta-bà thế giới độ tạn vạn-linh đắc qui Phật vị.
Các Đấng ấy đã chịu như chúng ta ngày nay đặng đi đến toàn-thiện , đặng toàn-trí , toàn-năng , họ đi trước mình đi sau , họ cao, mình thấp thỏi, con đường họ đi mình cũng đi tới . Một điều ta nên để ý hơn hết là chúng ta phải hiểu rằng : Mặt thế nầy chưa biết ai cao ai thấp. Nơi Hạo-Nhiên Pháp-Thiên một vị Phật cao-trọng, toàn trí , toàn năng gần như Đức Chí-Tôn nũa mà xuống thế đặng học , bìa học khổ, dám làm kẻ ngu dốt lắm.
Chúng ta thấy hình thể một vị Phật Mahâsarouth là một vị chi Phật như Đức Cakya Mouni đến thế-gian bưng bình Bát-du để xin cơm đặng nuôi kẻ khổ. Một người ăn mày ở thế-gian như vậy mà nơi cửa hư-không lại có quyền-năng vô-tận vô đối . Đến Đức Chúa Jésus Christ là một vị Christna Vichnou đệ nhị kiếp Chí-Tôn giáng linh xuống làm một vị bần hàn khổ-não để đi xin từng chén cơm , từng miếng bánh mì để nuôi kẻ đói khó. Đó là bài học trước mắt phàm chúng ta đã thấy.
Đấng Tạo-Đoan đưa tay xin cho loài người ăn, đó là người cầm quyền-năng nuôi khắp vạn-vật Càn-Khôn vũ-trụ . Thế-gian chưa hề thấy và chưa hề biết.
Kỳ sau Bần-Đạo giảng tiếp.

50.- Lễ Khánh-thành văn-phòng Hiệp-Thiên-Đài
Văn-phòng Hiệp-Thiên-Đài ngày 8 tháng chạp năm Đinh-hợi (18-01-1948).
Tưởng từ khi tôi đã phế đời, hiến mãnh thân phàm nầy cho Đức Chí-Tôn làm khí cụ tạo cho nước Việt-nam một nền Tôn-giáo nầy, không ngày nào được phần thưởng vô-giá như ngày hôm nay, mà chỉ có một ly rượu. Theo sự hưởng-ứng của các bạn biết, nếu con người ta lấy cái sức phàm làm môi-giới cho cái sở hành riêng thì hẵn không ai can-đảm chịu. Cái người đã thả mình vô cảnh khổ với một sư vui tươi thì hồi xưa đến giờ chưa có. Tại sao vậy ? Tôi đã hiểu bí-mật ấy, tôi hiểu cả, nên cho các ban hiểu.
Các Đấng tự-hửu, hằng hửu, thiên-hạ tưởng không có, họ lầm từ trước, người ta tưởng Đấng ấy không có. Đấng ấy đã có từ tạo thiên, lập địa, tôi biết tôi hiể, tôi đã chịu khổ não để thay-thế hạnh-phúc cho đời là do nơi đâu ? Không phải tại nhà tôi hay tại tôi, chưa chắc, do nước Việt-nam chăng ? Aáy là do toàn nhơn-loại. Đấng Cha lành ấy dầu thấy con bạc-bẽo thế nào, Đấng ấy cũng còn thương yêu. Sự thương-yêu của ông cha lành nó truyền-nhiễm tôi, do nơi chỗ tôi nghe được, tôi hiểu được, biết rõ đặng Người.
Đấng ấy có mơ-vọng gì vô hạn ? Nhứt là Ngự-Mã-Quân của Chí-Tôn biết trước hơn ai hết, bởi vì Ngài có dạy, trước hết là Ngài bỏ Huỳnh-Kim-Khuyết , bỏ thiên-cung đòi xuống trần dạy con cái của Ngài lập phương giải khổ. Nếu tôi không lầm, cơ-bút đã cho tôi biết các bạn Hiệp-Thiên do nơi đâu sản-xuất ? Do để giữ quyền thiêng-liêng nên mới có 12 vị Thời-Quân, thập nhị địa-chi, tức là cảnh thiêng-liêng vô-hình của chúng ta. Tôi tưởng tấn-tuồng tôi đã làm trọn và làm nơi cỏi vô-hình . Ngày kia về thiêng-liêng các bạn sẽ thấy hình tối đại, tối thiểu. Phận-sự tôi đối với các bạn nó có thâm-tình vô hạn, vì đồng tâm, đồng chí, một mực đề xướng cả thảy đều nghe chịu một hoàn cảnh, Bần Đạo làm không hết, số là tại Bần-Đạo và các bạn Hiệp-Thiên-Đài đã hứa với Chí-Tôn.
Bần-Đạo lo cho toàn cả nhơn-loại hoàn-cầu, chớ không phải thương-xót một cá-nhân nào hay một đoàn thể nào, một quốc-gia nào, không phải làm tôi mọi cho đời, làm tôi mọi cho Đạo, nhưng vì cái năng-lực vô hình kia mà thôi.
Trước khi lãnh lịnh trên Bạch-Ngọc-Kinh tạo nền Chơn-Giáo Chí-Tôn quyết-định có Ngài giáng-thế mới được, Ngư-Mã-Quân không cho , bắt buộc phải có người thay thế cho Ngài tức là Thánh-Thể của Ngài tại đây.
Ngài đi mà không cho thì phải có hình-ảnh thế cho Ngài mới được. Hình-ẩnh của Ngài là Hội-Thánh Cửu-Trùng-Đài và Hiệp-Thiên, Hộ-Pháp có khôn-ngoan nào hơn là cầu-khẩn cho có người đến với mình đặng tạo Thánh-Thể đó, chớ một mình Hộ-Pháp xuống không thế được, nên phải cám dỗ cung nầy, điện kia , đến Cửu- Thiên Khai-Hoá, biết chắc làm được mới đi.
Các bạn cứ làm đi, vì cái phận sự đối với thế-gian, đối với lời hứa ở trên kia, mặt cân không biết đồng chưa ? Lời hứa trước kia, sự làm bây giờ, biết hai cái đó có đúng không ? Bần-Đạo làm mãi không biết làm sao cho rồi, nào lo cho Cửu-Trùng, rồi đến Phước-Thiien, đầu-óc của Hộ-Pháp đã chịu thâm-giao cùng các bạn, cứ làm mãi thôi, sống giờ nào làm giờ ấy. Không phải kiếp nầy tại đây có Thánh-Thể, không phải tại xứ Việt-nam ta mới có, chúng ta chỉ là người cặm bông tiêu thôi, chớ không phải người tạo, chúng ta sáng-lập là để đoàn hậu-tấn, vì chúng nó đứng chàng-ràng, không biết đứa nào gánh vác đảm đương.
Bổn-phận làm anh phải tạo nghiệp cho em. Mở đường trước cho con cháu đi, sau nhờ có chúng nó Thánh-Thể của Chí-Tôn mới tồn tại. Thầy không phải đến một kiếp nầy thôi mà đến phải ở đời đời, không phải Thánh-Thể đương nhiên họ sẽ đến nữa hay đã đến rồi, nó còn lộn-xộn không biết đứa nào. Biết còn nữa thì tức-nhiên phải mở con đường cho chúng nó đi vào tạo-nghiệp cho chúng nó. Tôi là đầy tớ của Đức Chí-Tôn, biết có bao nhiêu đó cứ đảm-nhiệm cương-quyết nâng-đở Đạo và Đời thôi.
May một điều là tôi còn thiếu với Đức Chí-Tôn . tôi xin đầu kiếp, thiếu hay không mà kiếp nầy tôi đã là tên dân nô-lệ cho nước Việt-nam , đã chịu thống-khổ tâm-hồn lẫn hình thể trên 35 năm.
Tôi không xin, tôi biết tại sao tôi đầu-kiếp xuống dân Việt-nam, tôi cảm-kích vô-hạn , nào chịu khổ, nào chịu bạc-nhược yếu-hèn. Tại thấy nhơn-loại đau-đớn Chí-Tôn mới đến ,ở một nền Tôn-Gioá, làm một khối sanh-quang cho toàn nhơn-loại, đó là cái danh-dự của nước Vieet-nam đã chịu khổ.
Vì cái tình của Chí-Tôn đối với dân-tộc Việt-nam nên tôi thí thân phải chết mới đền bồi xứng-đáng.
Còn một việc khác nữa là Ngài tạo đầu-óc, từ ngày mở Đạo Cao-Đài đến giờ, Ngài tạo đầu-óc nòi-giống Việt-nam để vãn-hồi quốc-vận, như thế cũng đủ cho mình đưa sanh-mạng mà đổi.
Vậy sự làm của chúng ta phải cương-quyết và nhẫn-nại đủ điều, không nhút-nhác, vui chịu, bởi đã hiểu giá-trị ân-đức của Đức Chí-Tôn như thế nào rồi, muốn trả được hết phải học sách làm đầy-tớ của những đầy-tớ của Đức Chí-Tôn , làm được vậy chừng đó mới trả nợ tình của Đức Chí-Tôn đặng.

51.- Lễ Mãn khoá hạnh-đường
Trường Hành-Chánh lúc
4 giờ chiều ngày10 tháng chạp. Đinh-hợi(20-01-1948)
Quả-nhiên từ ngày mở Đạo thì đã tạo hạnh-đường nhưng nó chưa có sanh-hồn, nay nhờ bữa tiệc nầy mà nó có sanh-hồn hiển-nhiên quí-báu vô-giá vậy, Tuy vân, không có gì xứng-đáng, nhưng Bần-Đạo hưởng được một vật quí-giá mà từ trước đến giờ chưa hưởng được.
Trước hết Bần-Đạo giải-nghĩa cái quyền đương-nhiên là quyền đời và quyền đương-nhiên của Đạo trong thế-kỷ XX nầy, nền văn-minh của Thiên-Chúa-Giáo truyền khắp cả nhân-gian cùng vạn-quốc trong hai ngàn năm trước. Đạo Thánh Gia-Tô lập quyền Đạo hồi xưa có cảnh tượng như thế nào thì ngày nay nền Đạo Cao-Đài của chúng ta cũng thế.
Hiện-tượng nền Tôn-Giáo của Chí-Tôn bây-giờ nó giống theo khuôn-khổ và cảnh-tượng của Thánh-Giáo Gia-Tô đã truyền, dầu cho ai cũng phải nhìn rằng : Cái công-trình của Thiên-Chúa-Giáo với nhơn-loại là vĩ-đại. Có thể chia ra hai quyền :
1.- Là quyền đời đương-nhiên (Pouvoir temporel).
2.- Là quyền-năng của tinh-thần (Pouvoir spirituel).
Cái quyền tinh-thần ấy biến ra một nền chánh-trị đặc-biết riêng của nó như Đền-Thánh Vatican ở La-Mã, là một nước trong vạn-quốc, một nước về tinh-thần . Cái tương-lai Đạo Cao-Đài sẽ đi đến đóø, không phải mơ-hồ mà tưởng chắc quả-quyết vậy.
Lập quyền chánh-trị Đạo Cao-Đài cũng như nền chánh-trị của Thánh-Giáo Gia-Tô nơi Đền Vatican 2.000 về trước. Lúc ấy quyền Đời và quyền Đạo Thánh Gia-Tô chiến-đấu và phản-khắc nhau, trong lúc mà Thánh-Đạo Gia-Tô đang tạo quyền-hành tinh-thần đạo-đức. Cái chánh-trị của Thánh-Giáo Gia-Tô lập-thành được là nhờ lấy từ mảnh-mún tinh-thần mà tạo nên khối đó vậy.
Cái chánh-trị của Đạo Cao-Đài cũng thế, nhưng chỉ có một điều khác là người ta làm trước, mình làm sau, đường đi chúng ta kỹ-lưỡng hơn , trước kia tôi tưởng nó phải gặp nhiều trở ngại nguy-hiểm như Thánh-Giáo Gia-Tô đã đi. Trong hai ngàn năm mới lập quyền vững chắc và mạnh-mẽ đăng.
Còn nền Chánh-Giáo của Chí-Tôn mới 23 năm mà đã nên hình mạnh-mẽ, đó là Đức Chí-Tôn ban ân-huệ cho nước Việt-Nam đặc-biệt , Từ xưa các vị Giáo-chủ trên mặt địa-cầu nầy chưa đạt được như chúng ta bao giờ, Tuy vân,chúng ta đã chịu nhiều phen khảo-đảo ấy, ngó lộn lại đối với các nền Tôn-giáo, các vị Giáo-chủ, muôn phần không có một.
Nền móng của Thiên-Chúa-Giáo tạo ra khó khăn thế nào , chúng ta noi theo sự sáng-tạo ấy đặng tạo nên một nền móng nữa , phận-sự rất dễ-dàng. Nền Chánh-trị ấy là một nền chánh-trị để phân quyền với quyền đời, quyền đời Bần- Đạo chẳng cần luận vì nó là oai-quyền nh trước mắt chúng ta đã thấy. Bần-Đạo chỉ luận về quyền Đạo của chúng ta mới vừa đạt đặng.
Nó cũng quyền hành như ai , nhưng có một điều trọng-yếu khác hẳn là quyền đời và quyền đạo cách nhau nột trời một vực , như bên nầy và bên kia , mặc dù không có mức chính giữa đã định , nhưng bên kia xâm-lăng sang bên nầy một chút thì người ta đã thấy . Hai quyền đều đặc-sắc không giống nhau đặng . Cây huệ-kiếm của chúng ta không phải là thiết-kiếm của thế-gian hửu hình mà là huệ kiếm vô-hình tức là tinh-thần và đạo-đức của chúng ta.
Bần Đạo đã nhiều dịp nói rằng : Cả Thánh-Thể của Chí-Tôn là trường quan-lại, nếu quan-lại Đạo mà bắt chước đồ theo thể-pháp và hình thể của quyền đời, thì xem như nó dị-kỳ hì-hợm lắm. Quyền Đạo nó có hình-tướng khác, nó không quái gở và dị hợm như trường đời, chúng ta xem thấy hiển-nhiên đó vậy.
Nếu anh hoạ-sĩ đủ tài, đủ năng-lực cầm cây bút hoạ cho nó nên hình tướng, tưởng không có vật báu chi ở thế-gian nầy so-sánh được , vì nó có Tiên căn Phật cốt hiện trong đó , để tạo ra hình tướng . Cái hình tướng và tinh-thần của Tiên Phật tốt đẹp thế nào không nói ra ai ai cũng biết. Cái hình nó phải mường-tượng như thế đó , phải làm cho nó ra hình Tiên cốt Phật các bạn thử xem Tiên, Phật tốt đẹp như thế nào, thì trường quan-lai của của Đạo phải cầm cây viết thiêng-liêng vẽ nên hinh tốt đẹp như Phật như Tiên vậy.
Nếu rủi có một bệt lọ hay một bợn nhơ dính vào thì nó dị hình dị dạng và ô-trược lắm. Nó phải cho đẹp đẻ khôi-ngô linh-dị nguyệt-xu mới đặng . Tỷ như hạng gái kia đi ra đường mà có một bệt lọ lấm lên mặt thì nó đã dị-hợm khó coi rồi. Tóm lại là nó phải tinh tuý , nếu dính một chút bợn nhơ thì nó sẽ gớm-ghê hình dạng mà chớ !
Tôi nói quyết một điều là chánh-trị đạo mà có dính một chú của quyền đời thì dị-hợm xấu-xa lắm vậy. Bởi tinh-thần không chịu vật-chất , vật chất không hề hoà-thuận với tinh-thần . Trường quan-lại của nền chánh-giáo Chí-Tôn khác hơn đời, chúng ta chỉ lấy đạo-đức nhơn-nghĩa làm quyền, còn ngoài kia họ lấy quyền-lực cưởng-bức, hai cái so nhau khác hẳn.
Trong cửa Đạo nếu chẳng biết quyền mình là gì, lại bắt-chước đồ theo tâm-lý thiên-hạ, cưởng bức vô đạo-đức, vô nhơn-tình thì quả-nhiên sái hẳn. Quyền chúng ta là chỉ lấy đạo-đức tinh-thần của tổ-phụ ta để lại trong 4.000 năm làm huệ-kiếm để bảo trọng quốc-hồn của nòi giống thì mới trúng, còn ngoài ra dùng phương-pháp khác là sai lầm.
Tôi nói ít mà các bạn nam nữ hiểu nhiều, tôi chỉ trông cậy các bạn. Vậy tôi xin để cả sự trong cậy của tôi trong tâm của các bạn là hình thể của Đức Chí-Tôn thật hành dùm nhơn nghĩa của Chí-Tôn đã để trước Đền-Thánh cho đời ngó thấy, đặng hưởng lấy hạnh-phúc thiên-nhiên ngàn xưa để lại là may mắn cho tương-lai con Hồng cháu Lạc.
Chúng ta hãy lấy Nho-phong làm căn-bản, phục-sanh hồn nước đã điêu-tàn, sau 80 năm nô-lệ, cho nó phục-sanh lại với các năng-lực làm sống quốc hồn của minh trong 4.000 năm về trước. Như thảng ta vẽ được khéo, được đẹp , thì người ta đương trông mong cho nó thành tướng . Chừng đó chúng ta không muốn bán cũng có kẻ mua, chẳng phải một nước Việt-nam nầy thôi, mà toàn-cầu vạn-quốc nài mua mà chớ !
Nhưng phải làm sao cho nên hình-tướng để có đủ quyền-năng bảo-trọng cả toàn cầu nhơn-loại đặng tồn tại, sống trong tinh-thần đạo-đức, trong sự công-bình yêu-ái của Chí-Tôn gieo-trồng nơi cửa Đạo. Đến chừng ấy chúng ta có thể trương tấm bảng lên rằng : Nền Đạo Cao-Đài làm môi giới, căn-bản nền đại-đồng thế-giới đó vậy.
Bần-Đạo tưởng ly rượu nồng ngày hôm nay là ly rượu trường-sanh bất-tử, bởi đây là nơi sản-xuất hột giống trường-sanh bất tử. Ly rượu trường-sanh nầy các bạn đưng khinh rẽ nó. Trước khi từ giã, cảm-ơn các vị giáo-viên và chư vị tân-phong nam nữ đã cho Bần-Đạo hưởng được mùi ngon vị ngọt rất hay ho. Bần-Đạo để lời cảm ơn.

52.- Lễ bế mạc Đại-hội Hội-Thánh
Đền-Thánh 4 giờ chiều ngày 13 tháng chạp năm Đinh-hợi (23-01-1948)
Trong hai tháng Bần-Đạo nói thật-tình thấy Hội-Thánh tấn-bo khá nhiều rồi. Hôi-Thánh năm nay đã đem ra mặt luật lưu lại cho hậu tấn một khuôn-khổ chuẩn-đích từ-thử chưa xuất-hiện.
Một nền Chánh-trị Đạo, không khác gì chánh-trị đương-nhiên ở các nước Aâu-châu. Ở Á-đông nầy có nhiều nước phát triển như : Nhựt, Tàu, Miếm, Xiêm cũng có một khuôn-khổ nhứt-định như vậy. Dầu quân-chủ lập-hiến hay Dân-chủ pháp chánh cũng một mực như nhau đều chia ra hai phần :
Phòng định-luật là phòng bảo-thủ, Phòng dân-chủ là phòng tấn-bộ. Phòng dân-chủ của Pháp dưới thời dân-quyền "La Chambre des Desputés", còn phòng định-luật hay quân-lực nói thật ra họ không có Chúa, nhưng muốn biết phòng quân-luật hẳn-hòi, xem như nước Anh có "Chambre des Lords " tức là Sénat của Pháp vậy.
Chánh-trị của Pháp thấy hai phần :"Chambre des Desputés" và Sesnat không dung-hoà được , thì hai khối ấy phải đảo-lộn.
Chánh-phủ Pháp phải đảo-lộn, tương-đối sụp đổ biết bao nhiêu lần, chúng ta đều thấy các nước dân-chủ chia ra hai phòng, mỗi khi Sénat tức là phòng dân-chủ bác không tín-nhiệm thì phòng dân-chủ phải sụp đổ, tức là nội-các đổ , mà nội-các đổ tức là chính-phủ đổ. Đời chia ra hai phòng đặc-biệt , Đạo lại khác hẳn. Chơn-Pháp của Chí-Tôn để hai phong hiệp một là Cửu-Trùng-Đài và Hiệp-Thiên-Đài, Hiệp-Thiên-Đài là phòng quân-luật, còn Cửu-Trùng-Đài là phòng dân-chủ, biểu sao khỏi xích-mích nhau . Một đang bảo-thủ, một đàng dục-tấn, nếu hai đàng không hoà nhau, đem chân-lý hiển-nhiên thì hoà được được, còn không lấy chơn-lý thì đụng chỗ phản-khắc, không thể đệ lên thượng quyền mà còn nhơ-bợn được. Đó là cái bàn sàng, sàng mãi cũng phải lọt xuống.
Tại chơn-pháp như vậy, nên Bần Đạo biết trước cái ngày đôi bên chạm nhau, ngày ấy Bần-Đạo tự-nhiên lắm, còn ngoài nầy toàn Đạo không náo-động, Bần-Đạo chỉ kêu : "Coi chừng hể giữa Hội Thánh hai quyền phản-khắc nhau đem lên tới trên, gặp quyền độc tôn thì chịu lấy". Nên hai bên hoảng mới tìm phương dung-hoà nhau. Đó chỉ nghĩa Bần-Đạo duy mới cầm cây Phướng Thượng-hôi rung-rinh chớ không dùng đến quyền gì hết.
Hội-Thánh hôm nay thành tựu trong thời gian ngắn ngủi sợ e ngày kia chư Thánh nhiều, quyền hành Hội-Thánh lớn thì sự bàn cải kịch-liệt nữa kia. Tương-lai đó tưởng chúng ta sẽ ngó thấy. Từ việc định công nghiệp đến quyền hành, thì Bần-Đạo lấy trong thâm-tâm , riêng tưởng cầm cân công-bình thay-thế Chí-Tôn không được chinh-lịch, hoặc nói được hay không nói được, đùng nói jay là sẽ nói mà thôi, câu nầy không chinh-lịch với Bần-Đạo được.
Kẻ nào có dày công cùng Đạo, Bần-Đạo xin bảo-lãnh không có điều chi bất-công qua mắt Bần-Đạo được , nhưng thời cuộc chưa đến mức ấy. Ai có dày công cùng Đạo, đừng tưởng Hội Thánh quên công.
Ngày nay không nói đặng có ngày sẽ nói đặng, Hội Thánh không quên được một ai, ắt sẽ quyết định cho.
Ngày nào Bần Đạo còn đây. Không có một điểm gì bất công-quả mắt Bần-Đạo được và Bần-Đạo quyết chắc như vậy.
Bần-Đạo xin bế-mạc đại-hội Hôi-Thánh và để lời cám-ơn.
(Đọc kinh bãi hội xong, lúc trong Đền Thánh bước ra Ngài nói :) " Có một điều đáng để ý, tại đây có một vị Đại Thiên-phong Đường-nhơn làm Đầu Hội-Thánh. Ngày sau người ta sẽ lấy làm lạ lắm".

53.- Giảng hai câu kinh trong bài Đại-tường
Đền-Thánh đêm 22 tháng chạp năm Đinh-hợi (1945)
Các vị Giáo-Chủ đã tiềm-tàng cho đi đến con đường ngay chánh. Mấy vị Giáo-Chủ đi quá sức tưởng-tượng , lập một khuôn-khổ không ai theo đặng, nên trong sự khó tránh đặng mưu người tìm phương đánh đổ, tìm phương sửa cải. Nếu có nền Tôn-Giáo nào ở thế-gian bị tâm-lý nhơn-sanh đánh đổ phải biến thành tà giáo , tức-nhiên là phương phân chia tâm-lý, nhiều phe, nhiều phái mới nhiều tâm-lý tương-đương thì chúng ta thấy giặc-giã chiến-tran vì đó mà khởi hấn, toàn cầu tàn-sát tự-diệt lẫn nhau bốc khởi. Hại thay ! Sự tàn-sát mạng sống của cá-nhân diệt bửu vô-giá của đời. Chí-Tôn là cha mạng sanh ấy đối với Ngài giá-trị thế nào không cần luận-giải, Ngài là Cha Thiêng-liêng, ta không thế nói cha mẹ ta tại thế nầy sánh với Chí-Tôn thế nào đặng.
Đau-đớn biết bao nhiêu ! nhơn-loại không biết nhìn nhau đồng căn-bản, đồng cốt nhục và tương-tàn với nhau , biểu Chí-Tôn khoanh tay ngồi ngó cho đặng, nên Ngài sai người thừa mạng-lịnh của Ngài đến qui con cái của Ngài làm một, đặng tránh nạn tương-tàn tương-sát bảo-trong sanh-mạng cho nhau.
Đáng lẽ Ngài phải đến bắt-buộc phải đến, nhưng đến chẳng được, nên con thương-yêu của Ngài đến thế cho Ngài đặng làm trọn vẹn phận sự của Ngài. Nếu đến chẳng đủ diệu-huyền ắt vô giá-trị và sở-hành sẽ vô-hiệu lực.

54.- Lễ Bãi trường Đạo-đức học đường (1948)
Ngày 22 tháng chạp năm Đinh-hợi (1947)
Thứ nhứt : Mặt-trận hình thức là để chiến-đấu quân tàn-bạo sát-hại nòi-giống quốc dân ta, có chiến-tướng binh-sĩ, cây cờ nhơn-nghĩa của Đạo binh Cao-Đài về phần xác, phần hửu-hình ta thấy để bảo tín Đạo-Giáo, để bảo thủ thân sống con người.
Mặt trân thứ nhì để chiến đấu vêø tinh-thần trí-thức, mấy con là chiến-tướng, thẳng tới, tiến tới và cố-gắng hy-sinh thắng đặng trận cũng như mặt trận thứ ba, Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn tức là chức sắc thiêng-phong đã làm chiến-tướng thắng cả tâm-hồn, bảo thủ nền Quốc Đạo từ mảy mún mà tô-điểm thêm xinh, không có lực lượng nào đến phá hoại nó đặng.
Ba mặt-trận ấy thấy hiển-nhiên trước mắt, cả tương-lai ấy trong tay các em, các con, Thầøy có lời yếu thiết gởi-gấm cả tương-lai rực-rỡ đó cho mấy em, mấy con, nghe à !

55.- Lòng thương của Phật-Mẫu
Toà-Thánh đêm 24 thàng chạp năm Đinh-hợi (1948)
Mấy chị, mấy em đã thấy tấn tuồng thiên-hạ tàn-sát tiêu diệt lẫn nhau quá lẽ. Phụ-nữ vạn-quốc hiệp chủng phản-kháng sự chiến tranh và nhứt-định không cho đem con cái của họ ra làm bia cho súng đạn.
Tưởng các chị, em biết mình là nhơn-viên cơ Tạo-Đoan nhứt là Phật-mẫu là nhà nghề Tạo-Đoan. Mỗi cái gì mình làm được dầu nó là vật vô-tri vô giác, nếu có ai đập bể hoặc làm hư hao mình còn giận , còn đau-đớn thay, huống chi với tình mẹ con biết bao nhiêu giá-trị ! Không có quyền nào giết một đứa con của người mẹ, cũng như Phật-Mẫu hiện giờ nầy, trên Ngọc-Hư-Cung có lẽ Phật-mẫu phản-kháng cái nạn tiêu-diệt nhơn-loại mãnh-liệt hơn Bần-Đạo tưởng-tượng mà chớ. Ở dưới thế, đương thấy cái tình cảnh trước mắt, các chị em phải làm chứng cớ cho Phật-Mẫu nạp cả hồ-sơ cho Phật-Mẫu để phản-kháng cơ tự diệt thiêng-liêng trong 7 ngày, làm cho thiên-hạ đem cả thống-khổ , đau-đớn của các bà mẹ đưa trong tay cho bà mẹ linh-hồn là Phật-Mẫu, để Ngài đủ quyền-năng phản-kháng giữa Ngọc-Hư-Cung , hầu giảm bớt cái nạn chiến-tranh tàn-khốc. Làm được không ? Có lẽ cả thảy đều làm được chớ.

56.- Lễ đưa Chư Thánh triều Thiên
Đền-Thánh đêm 24 tháng chạp năm Đinh-hợi (1948)
Bần-Đạo đã ngó thấy toàn Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn nam nữ cũng thế, từ nhỏ chí lớn , đã trụ cả đức tin, làm cho Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn ngày càng thêm đẹp-đẽ. Riêng về Bần-Đạo để lời nói cùng toàn cả chức-sắc Thiên-phong Bần-Đạo xin để lời cám ơn các cơ-quan đương-nhiên trong nền Chánh-trị Đạo, đã giúp hay cho Đạo trong thời-gian ngắn-ngủi đã phục-hồi được cái khuôn-khổ chơn-truyền. Tưởng thật ra từ 17 tháng nay Hội-Thánh làm việc nhiều lắm, cả con cái của Chí-Tôn hao biết bao nhiêu tâm-não , thi-hài để tô-điểm nền chơn-giáo Chí-Tôn thêm cao-trọng , Bần-Đạo xin cúi đầu để lời cám ơn toàn cả con cái Đức Chí-Tôn.
Luôn dịp Bần-Đạo cầu chúc tân-niên nầy , cả con-cái của Chí-Tôn nam nữ , Thánh-Thể của Người được tráng-kiện tinh-thần và hình-thể , hưởng được hạnh-phúc đặc-biệt của Chí-Tôn chan-rưới và lướt qua hồi khảo đảo truân-chuyên , có lẽ buổi hạnh-phúc an-ninh của cả quốc dân chỉ sẽ đến trong chốc lát đây mà thôi, vì dân-tộc Việt-nam phải còn truân-chuyên nhiều nữa.
Bảy ngày nghỉ cúng, chúng ta thành-tâm cầu nguyện Đức Chí-Tôn cùng Thần Thánh Tiên Phật. Bần-Đạo quả-quyết trong năm nầy nếu tinh-thần Bần-Đạo không lầm thì nòi-giống Việt-nam chúng ta sẽ được đặc-ân là độc-lập tự-do cho tổ-quốc, độc-lập trên pháp-lý Quốc-tế đó vậy. Nhưng muốn cho thực-hiện được thực-tế, có lẽ cuộc tranh-đấu của dân-tộc Việt-nam còn dài.
Luôn dip Bần Đạo giải nghĩa tại sao phong-tục nhà Nam gọi là đưa Ông Táo về Trời, chớ thật sự là đưa chư Thân Thánh Tiên Phật về triều thiên, tinh-thần từ trước vẫn vậy.
Chơn-truyền buổi Chí-Tôn tạo Càn Khôn Thế-giới, Ngài nắm thập nhị Thiên-can, Thập nhị Địa-chi trong tay, để định Pháp-chánh càn-khôn vũ-trụ . Trong thời buổi định Pháp-chánh ấn-định vào khoảng từ ngày 23 đến 30 sáng mồng 01 họp tại Ngọc-Hư-Cung đặng định-luật giới-hạn vi-diệu cho trái địa-cầu, chạy theo khuôn-khỏ hửu-định trong năm cho chí tân-niên là 12 giờ đêm 30 khởi-điểm 01 giờ sáng ngày mùng 01 tháng giêng năm sau.
Luật Thiên-Điều trị thế , trị nơi địa-cầu nầy là hình-luật thiêng-liêng là ngày giờ này nơi Ngọc-Hư-Cung kiểm soát định tội phước đó vậy. Càn Khôn Võ-Trụ , đều có đại-hội lập luật , trong một năm giáp vòng bửu giới. Nếu trái địa-cầu nào chưa được êm-đềm, luật Thiên-điều thay đổi khác mỗi năm, chiếu theo tấn-hoá và tâm-lý của nhơn-sanh . Nơi Ngọc-Hư-Cung định Pháp-chánh cũng như trong Càn Khôn vũ-trụ là 12 tháng một niên, 12 niên môït giáp, 120 năm một thế-kỷ (tất-cả đều cho rằng 100 năm là một thế-kỷ như vậy không đúng), 1200 năm là một giáp, 12.000 năm là một ngươn, 36.000 năm là một chuyển, mỗi phen đáo đến sở hành ngày giờ ấy, có Hội Giác-Tiến là thường tại, từ thử đến giờ chúng ta chưa nghe nói về một nghìn hai trăm năm có một vị Giáo-Chủ giáng thế chỉnh Đạo, bảo thủ tinh-thần đạo-đức của loài người. Cứ độ 1.200 năm có xuất hiện một nền Tôn-giáo để hoá-chuyển thay đời, tính lại địa-cầu chúng ta từ buổi phôi-thai, có vạ linh nơi mặt thế đến nay được 3 chuyển . Nay hạ-nguơn tam chuyển , khởi đầu thượng nguơn tứ chuyển chẳng khác gì đêm 30 sáng mùng 01 tết chúng ta vậy.
Tới mức giữa không-gian thì nhơn-loại tới hồi khổ-não đủ điều, người ta nói là tậân-thế, cái thuyết ấy không có đâu, nếu chúng ta dùng lời đặng nói chẳng qua là một giáp đó thôi, tức nhiên là một nền văn-minh Tôn-giáo chứ không phải tận thế.
Kiếp số địa cầu nầy còn vĩnh-cửu, chỉ thay đổi hình thể vạn-loại mà thôi , nó vẫn còn tăng-tiến mãi, Chúng ta đã ngó thấy qua chừng 100 năm trước, văn-minh con người không đạt đến mức hiện như bây giơ. Cơ tấn bộ tinh-thần vật chất dữ dội nhứt là trong vòng 50 năm. Theo đó mà tính-toán lai coi trong 500 năm nữa, nhơn-loại sẽ ra sao ?.
Phật-giáo nói: qua sắc dân da trắng, tinh-thần vi-chủ tới sắc dân Thần- Thông-Nhơn, qua khỏi dân Thần-Thông thì có sắc dân Chí-linh, lúc đó người là Thần Thánh Tiên Phật tại thế, như vậây còn hai sắc dân nữa cho 500 năm sau.
Mỗi sắc dân vi-chủ một nguơn niên , kể hai sắc dân nữa chưa xuất hiện , ta cũng kể là 30.000 năm nữa đời sẽ thay đổi khác hơn. Nhơn vật và địa cầu cứ tăng tiến mãi, trên con đường tận-thiện tận-mỹ, vật xinh người đẹp , vật bỏ ngu đến khôn, người khôn đến chí-linh, đến ngày cùng chót toàn là Thần Thánh Tiên Phật xuống ở cỏi trần nầy. Lời Chí-Tôn tiên-tri và quyết-định hẳn hoi :
Ta lấy lớn suy nhỏ, lấy nhỏ so lớn, Càn Khôn tấn-triển thế nào ? Bần-Đạo ước mong Càn-khôn vũ-trụ phát-triển cách nào trong mỗi Nguơn niên Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn tăng-tiến theo luật-định Thiên-điều, phải đi theo y khuôn luật của con đường Chí-Tôn định , tấn-triển tới trong năm khai nguơn nầy vậy.
Bần-Đạo ước-mơ sự tăng-tiến của con cái Chí-Tôn được gia-bội gấp đôi ba bây-giờ mà chớ. Muốn đạt vọng ấy Bần-Đạo để cả tín-nhiệm nơi tâm-lý con cái của Chí-Tôn, Tưởng cả thảy đều mơ-ước mà làm đặng chăng là nhờ quyền-năng vô-tận của Đại Từ-Phụ mà đạt đặng .
Chúng ta hãy cầu nguyện để trọn tâm đức chắc chắn nơi Đức Chí-Tôn thì Chí-Tôn chẳng hề khi nào hẹp lượng . Chúng ta quyết-định xin mà làm nên cho cả con cái của Người thì Người cho, chắc-chắn vậy.

