ĐẠO CAO ĐÀI VÀ VICTOR HUGO

Tạp chí Religio, la Rivista di Studi Religiosi tại La Mã do Ernest Buonainti làm Giám đốc đã nêu ra một bài báo về Đạo Cao Đài. Ông G. Mingiano viết như sau (trang 478) :

 

Victor Hugo và  Đạo Cao Đài :

Một trong những bạn thân của tôi làm một cuộc hành trình đến Viễn Đông, viết thơ cho tôi từ Sài Gòn :

“ Anh biết chăng, Victor Hugo đã được phong Thánh ? Đó là một tôn giáo ở Nam Kỳ gọi là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, có một tư  tưởng lạ lùng là cấp cho một đại thi sĩ Pháp những vinh dự thiêng liêng. Anh nói thế nào ?

Đương lúc ấy, ở nước Pháp, người ta phải lập một nghị quyết, cho biết làm cách nào cho xứng đáng nhứt cuộc lễ kỷ niệm 50 năm của Victor Hugo, trong khi các buổi lễ khác được diễn ra tại Panthéon (Công Thần miếu), tại trường Đại học Sorbonne, tại đảo Guernesey, được duy trì trong sự bình thường đúng mực của những vinh dự chính thức, thì đây là một tôn giáo ở Nam Kỳ ban cấp cho nhà thơ  những vinh dự thiêng liêng và ghi danh  ông vào hàng phẩm Thần linh. Như thế, một người được vinh dự tôn thờ (hay gần như vậy) mà trong di chúc nổi tiếng của ông không nhìn nhận tất cả giá trị và nội dung tôn giáo ở những giáo hội đã được thiết lập và chỉ nhận lãnh lời cầu nguyện của những người khiêm tốn. (1)     

_________________________________________________________________________

(1) Vâng, có lẽ ! nhưng đừng quên rằng V. Hugo là một nhà Thần linh học (TLH) và sự ảnh hưởng TLH đối với  ông làm cho đời sống của  ông chia làm hai phần : trước và sau khi gia nhập TLH.

“ Chúng ta hãy cho vào cử chỉ của người Cao Đài cách đối xử đúng của nó : Sự tán dương một thiên tài dĩ nhiên như là sự biểu lộ của ánh sáng thiêng liêng; sự tán dương thơ văn dĩ nhiên như là sự biểu lộ của loài người trong sự điều hòa thiêng liêng. Hình thức tôn vinh tự đóng khung một cách tự nhiên trong những quan niệm căn bản của một tôn giáo mới, mà chưa đầy 10 năm đã tập hợp được gần một triệu tín đồ.

Ở Ba lê, vào cuối năm 1931, tôi có quen biết một sinh viên Nam Vang, theo học Văn khoa tại Đại học Sorbonne. Cậu là một tín đồ Cao Đài. Cậu cho tôi biết rằng :

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có nghĩa chính xác là Đạo Cao Đài, được thành lập vào tháng 11 năm 1925 và phô bày một sự tổng hợp ba tôn giáo lớn ở Đông phương : Phật giáo, Khổng giáo và Lão giáo, hợp với Thiên Chúa giáo  và Thần giáo, tượng trưng Ngũ Chi Đại Đạo mà Đấng Cao Đài (Thượng Đế) mở ra cho nhơn loại để phát triển và tiến hóa tâm linh. Như người ta thấy, Hồi giáo không có chỗ đứng trong các con đường dẫn tới Đấng Tối Cao. Trái lại, Đức Chúa Jésus Christ được tín đồ Cao Đài xem là Sứ giả của Thượng Đế, giáng trần để hướng dẫn một phần nhơn loại vào con đường tu hành, con đường tương xứng với khả năng hiểu biết những giá trị tâm linh.

“ Với ý thức tôn kính sâu xa, cậu sinh viên trẻ tuổi Đông Dương ấy gọi tên Đấng Christ với sự vâng phục, cậu nói với tôi về nghi lễ của Thiên Chúa giáo mà cậu biết cái ý nghĩa huyền bí, đối với tôi, tôi thú thật, là bài học cao nhứt, hiệu quả nhứt về sự dung thứ, đồng thời là một gương mẫu của tình huynh đệ chơn thật dâng lên Đấng Tối Cao, nơi đó sự khác nhau của các danh từ mà người đời cầu nguyện không làm thay đổi gương mặt luôn luôn rực rỡ bác ái.

 

“ Sau cùng cần gì phải biết một Đấng chơn linh thực sự hay không chơn linh của Fénelon ?  Khi mà chơn linh chỉ nói những điều tốt đẹp và nói như chính chơn linh Fénelon, đó là một chơn linh tốt; dưới cái tên ấy, chơn linh tự làm cho biết thì không quan hệ và thường chỉ là phương tiện để ấn định ý tưởng của chúng ta.”

                                                Allan Kardec

                                        Thuật lại bởi René Sudre.

“ Hãy biết rằng tất cả mọi người đều biết qui tắc, mục đích, đường đi của mình;

Rằng từ một ngôi sao đến một con mọt gạo, khoảng không bao la tự lắng nghe;

Rằng tất cả đều có ý thức về sự sáng tạo;

Và lỗ tai có thể thấy,

Vì các vật và con người có một cuộc đối thoại lớn.”

                                              Bóng Tối nói như thế.

                                                Victor Hugo, Jersey, 1855.

Victor Hugo, khi còn sống là một người thực hành Thần linh học, ông thông công bằng phương tiện là cái bàn và bởi chấp bút. Ước  muốn của ông là được giáng sanh để biểu lộ cho những huynh đệ của ông biết về sự giáng sanh khi, chính ông, là người đã thoát xác.

Do đó, những thông điệp của Hugo được nhìn nhận xác thực dễ dàng hơn những thông điệp của Fénelon (để thuật lại ví dụ của Allan Kardec) hay của tất cả chơn linh khác.

Hơn nữa, sự long trọng của thông điệp mà tôi sắp trình bày nơi đây, là do phẩm tước cao cả của vị chất vấn thỉnh cầu  để giúp cho sự xác thực.

Đây là thông điệp Thần linh học của Chơn linh Victor Hugo hay Nguyệt Tâm Chơn Nhơn trong một đàn cầu cơ ngày 20-4-1930 lúc 1 giờ sáng.

 

HỘ PHÁP : - Xin cho tôi hiểu nguyên thỉ của Thầy

                   chúng ta và quyền hành của người.

Chơn linh VICTOR HUGO đáp : 

Hiểu cho đặng huyền vi khó nổi,  (*)

Tra khuôn hồng tỏ mối không minh.

Theo tôi nghĩ  thế giới mình,

Ngoài ra còn có lắm hình càn khôn.

Nhiều thế khác biệt phân lớn nhỏ,

Sinh tồn loài vật  rõ  y nhau.

Một ngôi nào đó nên cao,

Về thần hồn với về loài nhơn sanh.

Cũng có lúc giống mình như hệt,

Tấn hóa nâng khí phách nên hiền.

Máy trời đẹp vẻ thiên nhiên,

Vật loài đều hưởng trọn quyền Chí Linh.

Các địa quả thái bình an tịnh,

Cả chúng sanh dốt tánh can qua.

___________________________________________________

Chú thích : Đức Hộ Pháp hỏi Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn (Victor Hugo) bằng tiếng Pháp, Ngài trả lời bằng thi văn tiếng Pháp. Đức Hộ Pháp dịch lại bằng thi văn tiếng Việt. Bài dịch nầy trích trong “Diễn văn và Thuyết đạo Đức Hộ Pháp, 1928-1940” trang 58-66.

Tương đối dứt, tuyệt đối ra,

Chơn hồn tranh đấu về khoa tánh lành.

Sanh chi cũng ngoan minh cách trí,

Quyền linh hồn chủ quỉ phàm tâm.

Thế hèn luật cũng không cần,

Tương thân chỉ cậy nhờ phần đức tin.

Cái chết bị tâm linh đánh bại,

Sống chết dường trái phải không phân.

Thương sanh truyền phép xa gần,

Hồn và người vốn Thánh Thần hiển nhiên.

Nhiều thế giới càn khôn ta có,

Sanh hoạt nầy quả cớ nên nhiều,

Địa cầu chừng đặng cao siêu,

Các Ngài rõ giá những điều phân phô.

HỘ PHÁP : - Chừng nào trái địa cầu nầy đặng hưởng

                   điều ấy ?

Thần linh dụng tiếng làm Ngài hiểu,

Cho tỏ tường phẩm hiệu dường bao.

Qua luyện tội Thánh cảnh vào,

Còn lâu nữa mới làm trào Phật Tiên.

Muốn biết đặng căn nguyên Từ Phụ,

Ở cùng người hoặc đủ hiểu Người.

Chẳng hồn nào quyết định lời,

Thích Ca thì cũng để lời phỏng ngôn.

Chớ coi trọng lời tôi bày tỏ,

Tôi thuật lời tưởng ngỡ như linh.

Tỷ như lúc trước Chí Linh,

Có sanh ở một cảnh hình càn khôn.

Người cũng đứng phẩm hồn hậu bổ,

Vật nên người, người trở nên Hiền.

Lần hồi lên phẩm thiêng liêng,

Khai Thiên người mới đoạt quyền Chí Linh.

Đã chịu lắm sinh sinh tử tử,

Đủ huyền linh làm chủ trí khôn.

Lại hay thâu phục chơn hồn,

Đặng làm Thần đệ vĩnh tồn triều nghi.

Đài Thiên cảnh vừa khi đặng lớn,

Dắt triều đình vào chốn không trung.

HỘ PHÁP : - Vậy chớ khi ấy Người đã có Thiên cung

                   riêng của Người rồi hay sao ?

Phải mỗi đứa riêng trong cảnh giái,

Của chúng ta tạo tại linh hồn.

Hồn, người, do bởi giác hồn,

Tạo nên cảnh giới cộng làm chánh chung.

Trong các Đấng lòng trung vẫn ít,

Phần đông do kẻ nghịch oan khiên.

Tu chơn bỏ máy diệu huyền,

Thì ta mở lối cảnh Thiên quỉ vào.

Quỉ vương hỏi nơi nào mà đến,

Cứ tầm chơn đừng đếm giả truyền,

Chắc do trong đám triều Thiên,

Chí Linh khó sửa cho tuyền Thánh tâm.

Ta hằng bị tình thâm phản nghịch,

Đố kỵ, cùng vui thích hại ta.

Hộ Pháp, tay Ngài tê quá thay là,

Đêm mai tôi tiếp nói qua việc nầy.

     Lời ác cảm ngày nay còn tiếp,

     Bây giờ đây cậy pháp danh Thầy.

     Đừng lo kẻ dữ làm chi,

     Biết khôn đó cũng có ngày ăn năn.

Tôi tiếp chuyện khai Thiên tôi nhận,

Cũng kỉnh phương học vấn của Ngài.

Chí Tôn tới chốn dạ đài,

Bình an phẳng lặng không loài động sanh.

Trong thứ khí không danh mây nước,

Vật chất sanh ngủ ước vô chừng.

Hào quang bao phủ mấy vầng,

Vật không biến hóa, thú ngừng không sanh.

HỘ PHÁP : - Thưa phải là hình ảnh của nước trong Sám

                   truyền đạo Thánh đã có nói đó hay không ?

Phải thứ khí kêu danh thủy khí,

Đông đặc nhiều xem kỹ đứng đầu.

Rằng Trời mặt nước ngự chầu,

Thì là phải hiểu cao sâu thế nầy.

Chơn thần người dẫy đầy ánh sáng,

Lấy dương quang ấp đảng vô năng,

Sanh lằn hỏa khí bao giăng,

Âm Dương tương khắc nổ lằn Thiên thinh.

Thái Cực nở với hình nguơn thủy,

Hai quyền năng dục khí hóa cơ.

Vật tiêu hóa khí, khí nhơ,

Tiêu thành nguơn khí bấy giờ sanh quang.

Khí sanh quang ấy toàn linh cảm,

Định linh hồn chết sống nơi tay.

Dị thường sanh hóa rất hay,

Sau nầy ta cũng thấy hoài huyền linh.

Vật chi tại tài tình Sư Phụ,

Ta không phương hiểu thấu cho cùng.

Lửa Thái Cực lớn vô chừng,

Rảy cùng thế giới muôn trùng hỏa tinh.

Phân phát quá rồi hình phải tuyệt,

Cùng càn khôn rảy riết không ngằn.

Hỏa tinh lớn hóa nhựt quang,

Nhựt tinh nguội lập cả hàng thế gian.

Nơi nào ánh linh quang chiếu diệu,

Vạn vật toàn đại tiểu đều thông.

Chí Linh tánh đức bao trùm,

Hữu sanh ai cũng do cùng Nhứt Linh.

Các nguơn khí ánh linh chiếu thấu,

Chi trược ngưng thứ xấu biến thạch hình.

Thổ, mộc, thú, nhơn, vạn linh,

Bán thanh sanh khí, thanh thành hạo nhiên.

Khối linh cảm ban tuyền vạn loại,

Tùy theo hàng phẩm thảy vừa chừng,

Hồn linh sanh hưởng hồng ân,

Còn bên thể phách về phần sanh quang.

Ngài đủ rõ hành tàng sót lại,

Tới đây tôi đành phải ngưng văn.

HỘ PHÁP : - Kiếu lỗi Ngài, nhưng quả mọi việc đều do nơi Sư Phụ thì tức nhiên nó phải tận thiện tận mỹ mới phải, cớ sao chúng tôi lại còn thấy đặng nhiều điều sai sót của cơ Tạo hóa vậy ?

- Những  điều chi sơ sót gọi rằng,

   Hoặc khi tôi có cớ bằng giải khuyên.

HỘ PHÁP : - Sự hung ác và sự vô ích của cả loài người

              loài vật và thảo mộc. Cái tánh đức của vạn loại

              khó lấy trí khôn người mà định khen cho đặng.

Không vô ích dữ hiền mặt thế,

Sống phải toan kiếm kế nuôi thân.

Chí Tôn con cái đều cần,

Lòng thương kia phải dành phần lợi sanh.

Cho tấn hóa, người hành đau thảm,

Người phải cho mô phạm bảo thân.

Dưới đời mấy mặt hiền nhân,

Với ta gọi dữ họ cần ích riêng.

Sao đặng tiếng Thánh hiền các Đấng,

Sử nhơn gian nào chứng chép ghi.

Đấu tranh mạnh yếu thường khi,

Xem ra thấy mạnh cũng thì phần hơn.

Lẽ mạnh yếu thiệt hơn chiến đấu,

Nâng trí mưu cơ xảo nên hay.

Cảnh phàm tương đối là đây,

Dữ, vô dụng, ấy là lời bia danh.

Nơi hoàn võ  cá nhân có chỗ,

Các Trời kia lớp ngõ học đường.

Càn khôn thế giới là trường,

Chư hồn đến học cho thường mới hay.

Kẻ nào nhẫng bỏ bài trốn mãi,

Không  đặng lên, học lại bài xưa.

Các hồn ai cũng mến ưa,

Sách thiêng liêng đọc mấy tờ vĩnh sanh.

Ai cũng ước công thành danh toại,

Phải nhiều thời nhiều phép nhiều kinh.

Vật hèn tới phẩm tối linh,

Con đường đi biết mấy nghìn thời gian.

Chung cuộc hiểu hành tàng ta đã,

Sau mới tường căn quả Chí Linh.

Biệt phân đẳng cấp tánh linh,

Là phương dành để cho mình sánh cân.

Trong học thức Ngài cần quảng đại,

Phân tánh người tùy cái tài ba.

Đem người phàm tánh cho ra,

Ngoài vòng Thánh chất, chánh tà phân minh.

Lấy gương tốt để dành Hội Thánh,

Năng dạy khuyên các nhánh bất trung.

Đừng thèm ghét kẻ gian hùng,

Coi phần hồn trọng độ giùm là hay.

Cứ thương mãi đặng cho nhơn loại,

Chơn lý kia cạn giải đôi lời :

TỪ BI  BÁC ÁI và TRỜI.

HỘ PHÁP : - Cha và Thầy khác nhau. Tại sao

                   Đại Từ Phụ cũng  xưng là Thầy ?

Người cũng vẫn Cha Thầy luôn một,

Cả chơn linh hài cốt tay Người.

Nuôi mình dùng vật thanh tươi,

Tạo hồn lấy phép tột vời Chí Linh.

Nơi Người vốn quang minh cách trí,

Tấn hóa hồn phép quí không ngưng.

Vật hèn trước mắt thành trân,

Hồn hèn Người lại dành phần Phật Tiên.

Luật thương yêu, quyền là ngay chánh,

Gần thiện căn xa lánh phàm tâm.

Làm Cha nuôi sống âm thầm,

Làm Thầy lại nhượng phẩm Thần ngôi Thiên.



THẾ NÀO LÀ TÍN ĐỒ CAO ĐÀI ?

Trong tạp chí Religio, la Rivista di Studi Religiosi, ông Mingiano viết :

“ Những tín đồ Cao Đài được phân làm hai hạng :

- Bực thứ nhứt (Thượng thừa) gồm tất cả Chức sắc từ phẩm tột đỉnh  (Giáo Tông) đến hạng thấp nhứt là tín đồ mới vào tu, tất cả bị bắt buộc tuân theo chế độ ăn chay nghiêm khắc, nghèo và thanh đạm (họ tự nuôi sống duy nhứt bằng rau cải và trái cây), được xem xét gắt gao. Hội Thánh là nơi căn bản truyền thụ và gồm 7 cấp truyền thụ : cấp cao nhứt là những anh lớn, có ưu thế tuyệt đối thông công với các sứ giả của Thượng Đế, những chơn linh cao cấp của ánh sáng mà họ nhận được khí lực, những lời giáo huấn và khuyên nhủ.

- Bực thứ nhì gồm khối đông đảo tín đồ, ngoài bổn phận giữ gìn Ngũ giới cấm, họ còn phải khiêm tốn, thật thà, vâng phục quyền hành bề trên mà họ trực thuộc và vâng lời Hội Thánh.

“ Sự thờ cúng không chỉ bao gồm việc tụng kinh  chung, nơi đó, các tín đồ được cầu nguyện trước một bàn thờ, trên đó đặt một quả cầu lớn trong suốt, trong đó đốt một cái đèn tượng trưng ngọn lửa thiêng. Trên quả cầu ấy vẽ một hình tam giác tượng trưng sự toàn hảo và sự tổng hợp các năng lực thiêng liêng, trong tam giác là Thiên Nhãn.

“ Trong tôn giáo nầy, hai trạng thái mà tôi xem là cơ bản nhứt :

Thứ nhứt : để là một tín đồ Cao Đài, họ không cần bày tỏ một đức tin nào, không cần liên hệ bởi một lời thề nào : Tự do tín ngưỡng là tối thượng ở nơi đây. Sự giáo dục thấy được và phát triển, không có ý bắt buộc các tín đồ, nhưng họ ưng thuận một cách tự do, sự gia nhập tự nhiên và tự nguyện.

“ Thành thử, không một người nào bị trục xuất khỏi tôn giáo mà không tiếp đãi, không đi theo người nào mà nó quyết định mưu toan đường khác.

“ Lời cầu nguyện của tất cả mọi người, trái lại, giúp nó được dễ dàng hơn cho những nổ lực mới.

“ Và điều đó, bởi vì các tín đồ Cao Đài không chỉ thừa nhận, mà còn cảm thấy rằng, cuộc sống nơi cõi trần, cuộc sống trong thời gian và không gian, là bằng chứng, là thử thách, là kinh nghiệm mà mỗi người phải thực hiện, để rồi tiến bước vào con đường dẫn đến Đấng Cao Đài, Đấng Tối Cao. Và mỗi người có quyền lựa chọn con đường đi của mình.

“ Việc tìm kiếm sự giàu có, sự chiếm đoạt và bành trướng của thế lực vật chất, đều bị các tín đồ Cao Đài lên án, bởi vì với họ, cõi Thiên đường chớ không phải cõi trần gian. Nhưng đối với họ, bổn phận và quyền lợi đồng thời  liên đới với nhau trong thời gian, sự  giúp đỡ vật chất và tinh thần.

“ Và đó là lý do của những người ở trạng thái thứ nhì gốc của Đạo Cao Đài : về mặt dân sự hay hơn nữa về hoạt động xã hội, Đạo Cao Đài có những trường học đặc biệt dạy các nghề thủ công, giáo dục văn hóa, ngoại giao, canh nông, vv. . . cách thức bành trướng một công trình dự phòng và giúp đỡ, có tổ chức và hiệu quả.”

 

Tạp chí Religio đăng tiếp bài của ông G. Mingiano có những dòng nhan đề là : Minh triết Đông phương,  ông kết luận rất đặc sắc :

“ Bạch Thế Thiên (Pai-te-tien) là một thi sĩ Trung hoa. Lúc làm quận trưởng, ông đến viếng một nhà hiền triết, một đại tín đồ Thiền tông, ông nầy chọn nơi ở trên những cành cây kết lại của một cây to. Họ Bạch thoạt thấy nhà hiền triết thì kêu lớn lên :  - Chỗ ở trên cái cây nầy nguy hiểm quá !

Nhà hiền triết cãi lại : - Cái gì ! Cái chỗ ở của ông còn nguy hiểm nhiều hơn chỗ ở của tôi.

Và tiếp theo là cuộc đối thoại :

- Tôi là Quận trưởng, tôi không thấy một mối nguy hiểm nào cả.

- Thế là ông không tự biết mình ! Không nguy hiểm nào lớn bằng dục vọng đốt cháy ông và trí não tối tăm.

- Thế nào là lời Phật dạy ?

- Chư ác mạc tác (không làm các điều ác),

   Chúng thiện phụng hành (các điều thiện vâng làm).

- Nhưng, cái đó con nít 3 tuổi cũng biết.

- Đúng, con nít 3 tuổi cũng biết, nhưng người già 80 tuổi như tôi rất khó khăn mới áp dụng kết quaû.”

 

“ Hàn Sơn (Han-Shan), thi sĩ, là một người điên, ông đi đến chùa Quốc Kinh  thu nhặt những đồ ăn thừa để nuôi sống. Những thầy tu chế nhạo ông là một người điên nghèo nàn, ngây ngô và không nguy hiểm. Một ngày kia, trong một ngôi nhà hẻo lánh, Hàn Sơn kêu lên : Ta nghĩ rằng tất cả những năm qua, ta đi một cách lặng lẽ đến chùa Quốc Kinh, nơi đấy mọi người nhìn ta nói rằng : Hàn Sơn là một người điên. Hiện thời ta suy nghĩ : Ta có phải là một người điên không ?  Ta không giải quyết được vấn đề, chính ta không biết cái Ta riêng của mình, thế thì tại sao những người khác có thể biết ta hơn ta ?”

“ Không nên là một người nói nhiều, để rồi tìm được Thượng Đế trong yên lặng. Hãy cầu nguyện, cái tâm đầy dục vọng, nhưng không nên nói một lời nào. Lúc ấy, Thượng Đế sẽ ban cho anh những thứ cần thiết, sẽ nghe tiếng nói của anh, và sẽ thâu nhận cúng phẩm của anh. Giống như một cái giếng trong sa mạc mà nước rất dịu ngọt cho ai cháy cổ vì khát, Đấng thiêng liêng đóng cửa khi anh nói  và mở cửa ra khi anh giữ im lặng.”

 

Thông điệp của Khôn ngoan

Các ngươi giết hại lẫn nhau, các ngươi tranh giành nhau những ngọn núi, những dòng sông, những đất đai, và những vùng biển. Các ngươi giết hại lẫn nhau để sở hữu những gì mà Thượng Đế tạo ra. Thượng Đế duy nhứt, Một trong Ba, Ba trong Một (Tam vị Nhứt thể) và các ngươi là những đứa con của Đấng Thượng Đế và Đấng ấy là Đấng Tạo Hóa của tất cả.

Tham vọng, ích kỷ, hung dữ, các ngươi giữ chặt túi tiền và trong túi tiền, các ngươi khép chặt tấm lòng của các ngươi. Làm thế nào để các ngươi thương yêu nhau, để trông cậy lòng thương yêu của Thượng Đế ?

 Muốn thuyết giảng sự hòa bình, phải thương yêu tất cả mọi người.

 Muốn thực hiện sự hòa hợp, tất cả phải tha thứ cho nhau.

.

Cái gì là phẩm tước cao hơn hết ?

Cái gì là ưu thế cao hơn hết ?

Cái gì là nguồn gốc cao hơn hết ?

Tất cả mọi người đều là con của Thượng Đế, cho nên Thượng Đế tự nhủ : các con của loài người.

*

*    *

Ngươi gõ vào cửa của sự khôn ngoan, một giọng hỏi :

- Ai đó ?

Ngươi trả lời :  - Tôi (Moi).

Và cái cửa không mở.

Ngươi gõ vào cửa của sự khôn ngoan, một giọng hỏi :

- Ai đó ?

Và ngươi vẫn trả lời là : - Tôi (Moi).

Đừng ngạc nhiên nếu cửa vẫn không mở.

Ngươi gõ vào cửa của sự khôn ngoan, một giọng hỏi :

- Ai đó ?

Ngươi do dự nhưng ngươi trả lời : - Anh (Toi).

Sau cùng thì cửa mở và ngươi bước vào trong sự khôn ngoan.



ĐẠO CAO ĐÀI
trong các Hội Nghị Quốc Tế

Chúng tôi được Tòa Thánh Tây Ninh (Nam Việt Nam) ủy nhiệm làm đại diện Đạo Cao Đài trong các Hội nghị quốc tế về tôn giáo.

1. Hội nghị quốc tế Thần  linh học Barcelone (1934)

Người ta đọc trong tạp chí La Revue Spirite (số tháng 10 - 1934, trang 505) trong một loạt các nguyện vọng được toàn hội chấp thuận :

Mục thứ 8 : Phong trào Cao Đài : Do đề nghị của ông Gabriel Gobron, Tiếp Dẫn Đạo Nhơn tại nước Pháp của Đạo Cao Đài (hay Phật giáo canh tân, hay Thần linh học VN), Hội nghị quốc tế Thần linh học lần thứ 5 họp ở Barcelone (từ ngày 1 đến 10-9-1934) thỉnh cầu rất cung kính Chánh phủ Pháp vui lòng nhớ lại các lời hứa long trọng vào tháng 3 năm 1933 tại Quốc Hội Pháp, của Thủ Tướng Sarraut, lúc ông là Bộ Trưởng Thuộc địa, thiết lập với ân huệ cho những tín đồ Cao Đài một qui chế cũng rộng rãi như qui chế được hưởng bởi những người theo Thiên Chúa giáo hay các tín đồ Phật giáo trong các nước của Liên bang Đông Dương.”

2. Hội Nghị thế giới về tôn giáo ở Luân đôn (1936)

Báo Le Cyne (ngày 20-9-1936) loan tin :

“ Tại Hội nghị Quốc tế về Tôn giáo tổ chức ở Luân

đôn, dưới sự chủ tọa của Ngài Francis Younghusband, nơi đó ông Gabriel Gobron, Tiếp Dẫn Đạo Nhơn tại nước Pháp của Đạo Cao Đài, tham dự theo lời mời của Tòa Thánh Tây Ninh, Đạo Cao Đài được thừa nhận là tôn giáo khoan dung nhứt thế giới. Trước đông đảo hội viên gồm đại diện của tất cả tôn giáo lớn trên thế giới và các đại diện báo chí quốc tế, đại diện Cao Đài tại Pháp tuyên bố : “ Đạo Cao Đài là một thực nghiệm về sự hòa hợp các chủng tộc và các sắc dân, mà quí vị hội họp nơi đây là vì mục tiêu ấy. Đạo Cao Đài hay Phật giáo canh tân  chắc chắn là một thực nghiệm sống của sự kết hợp và phục nhứt các tôn giáo.”  Nhiều tràng pháo tay nhiệt liệt hoan nghinh câu kết luận ấy.

 

 

3. Hội Nghị Thần linh học thế giới ở Glasgow (1937)

Nhựt báo L’Annam nouveau (14-11-1937) loan tin :

“ Do đề nghị của ông Gabriel Gobron, Tiếp Dẫn Đạo Nhơn tại Pháp của Đạo Cao Đài hay Thần linh học VN, Hội nghị Thần linh học thế giới lần thứ 6 họp ở Glasgow (từ ngày 3 đến 10-9-1937), sau Hội nghị Thần linh học thế giới lần thứ 5 tại Barcelone, nêu ra nguyện vọng là những người theo Thần linh học VN trong các nước của Liên bang Đông Dương  được hưởng những tự do tín ngưỡng và thờ cúng như những người VN theo Thiên Chúa giáo hay đạo Tin Lành, dầu họ là dân thuộc địa, dân bảo hộ, dân lai hay người ngoại quốc.

“ Nguyện vọng nêu ra trong Hội nghị Thần linh học quốc tế ở Baecelone đã mở ra thời kỳ khá rộng rãi cho các tín đồ Cao Đài hay Thần linh học VN”.

Nguyện vọng nầy được trình bày và bàn cãi trong bộ phận triết học của Hội nghị, được nhìn nhận bởi sự hoan nghinh trong buổi hội họp dân chúng tổ chức tại Phòng Triển lãm mỹ thuật McLellan ngày 9-9-1937.

 

4. Hội nghị thế giới về Tín ngưỡng tại Ba-lê (1939)

Tóm tắt bài tường thuật của tạp chí La Revue Spirite (Tạp chí Thần linh học)  (Ba-lê, 8 - 9) :

“ Hội nghị thế giới về Tín ngưỡng đã được tổ chức trước đây ở Luân đôn, Oxford, Cambridge, năm nay tổ chức tại Ba-lê. Cộng sự viên của chúng ta là ông Gabriel Gobron, được ủy nhiệm bởi các tín đồ Cao Đài hay Phật giáo canh tân ở Đông Dương, đến tham dự.

Những lời trách cứ mà ông đã đưa ra trong Hội Nghị tại Luân đôn có thể được lập lại nơi đây và hơn thế nữa : Những người tổ chức, hầu hết là người Anh, chỉ quan tâm đến các tôn giáo xưa có một quá khứ lâu dài và phong phú (lời phát biểu của ông Lacombe ngày 10-7-1939) và như vậy là đặt ra ngoài, các tôn giáo mới, những giáo lý mới và hơn nữa tôn giáo tổng hợp như Đạo Cao Đài có chủ trương dung hợp cơ bản những tín đồ Phật giáo, Công giáo, Lão giáo, Nho giáo, Hồi giáo, vv. . .

Vô ích để nói rằng Thần linh học, Thông Thiên học, Nhân loại học, vv . . . đều bị bỏ ra ngoài Hội Nghị nầy, chỉ tìm kiếm sự hợp tác trong “tôn kính” của những tôn giáo lớn và không bao giờ có sự dung hợp cơ bản hay tổng hợp.

Không có một so sánh nào về sự cao trọng của các tôn giáo được tha thứ. Giáo hội Công giáo, tuy chánh thức vắng mặt, nhưng được đại diện rộng rãi (Giáo sư Maritain, ông Lacombe, vv. . .) và trong tất cả các ngày, Công giáo đều nhận được sự tôn kính.

Hàng trăm người, phần nhiều là dân anglo-saxon, - sĩ quan, viên chức, giáo sư, quí tộc, trưởng giả - tham dự các ngày Công giáo, Do Thái giáo, Phật giáo, Tin lành, Hồi giáo, Ấn giáo, họ xen vào các cuộc tranh luận, đôi khi ngoài các đề tài nêu ra : Làm thế nào ngự trị tinh thần huynh đệ trên thế giới bởi sự tụ hội các tôn giáo ?

“ Sự bảo trợ chánh thức ban cho Hội Nghị (ông Champetier de Ribes và ông Georges Mandel) sự tiếp nhận Hội Nghị tại trường đại học Sorbonne bởi ông Viện Trưởng Roussy, với sự tham dự của các thuộc địa Pháp (một vị tướng ở Tunis, một Tỉnh trưởng ở Syrie, vv . . .) một “Ủy ban Pháp”  làm tăng uy thế của các buổi thảo luận long trọng tại Giảng đường Richelieu từ ngày 2 đến 11-7-1939.

“ Ưu điểm của Hội Nghị - ngoài những giới hạn hẹp hòi mà người ta qui định và những dự phòng chánh đáng - là kêu lên những quyền của con người, mà hiện thời bị chà đạp trong  tất cả các chế độ độc tài.

“ Một nguyện vọng là kêu gọi các nhà độc tài nên nhân đạo hơn nữa, được Hội Nghị chấp nhận và vấn đề người tị nạn phải được ghi vào nghị trình của Hội Nghị sắp tới  tổ chức ở Hòa-lan. Một lời kêu gọi gởi đến các Giáo hội chánh thức được đưa ra.

“ Những khách đến viếng thăm điện Versailles, các viện  bảo tàng Ba-lê, các trung tâm trí thức, Thánh đường Hồi giáo, nơi đó nhân phẩm có tính cách của dân Ba-lê đón nhận một cách lịch sự các Hội viên, vv. . . đã theo dõi hội tập thường ngày. Quả thật, người ta nói nhiều nhưng người ta cũng hành động : một Hội nghị như thế là một sự kiện đáng ghi nhớ. Người ta muốn tuyên bố nó quan trọng hơn cả Hội nghị Quốc liên, tiếp theo một trong những tiệc trà qui tụ nhiều Hội viên mà một ngày nào đó khơi lên ngọn lửa của những tân tín đồ về lý tưởng tôn giáo. “

Báo La Vérité ở Nam Vang, nơi đó có trụ sở của Hội Thánh Ngoại giáo Đạo Cao Đài, có tường thuật gần giống như trên (ngày 26-7-1939) : Đạo Cao Đài trong Hội Nghị các

tôn giáo tại Ba-lê (trang 1 và 5) :

“ Đạo Cao Đài hay Phật giáo canh tân đã được giới thiệu vào năm nay trong Hội Nghị các tôn giáo tại Ba-lê (từ ngày 3 đến 11 tháng 7) bởi ông Gabriel Gobron, Tiếp Dẫn Đạo Nhơn tại Pháp của Đạo Cao Đài, ông gặp lại các nhân vật lãnh đạo mà ông đã quen biết tại Luân đôn vào năm 1936, Ngài Francis Younghusband là chủ tọa và ông Arthur Jackman làm thơ ký.

“ Chánh phủ Pháp đã tổ chức và bảo trợ Hội Nghị các tôn giáo, chính các ông Georges Mandel, Bộ Trưởng Bộ Thuộc địa; ông Champetier de Ribes, Bộ Trưởng Bộ trợ cấp; ông Viện trưởng Viện Đại học Ba-lê, Bác sĩ Roussy, đã cung cấp Giảng đường rộng lớn Richlieu của Đại học Sorbonne làm nơi hội họp cho Hội Nghị.

Một Ủy ban Pháp, dưới quyền của Giáo sư  Louis  Massignon, gồm nhiều nhân vật : bà De Coral-Rémusat, ông Jean Herbert, bà De Margerie, công chúa A. Murat, ông De Traz, ông Lacombe, giáo sư Daniel Rops, vv . . . điều khiển các cuộc thảo luận, tập trung vào đề tài căn bản : Làm thế nào mở mang tinh thần hợp tác huynh đệ trên thế giới bởi các tôn giáo ?

“ Chung quanh vấn đề đặt ra nầy, người ta chẳng những ghi nhận các ngày Công giáo, Tin lành, Ấn giáo, Hồi giáo, Phật giáo, Do Thái giáo, vv . . . tùy theo diễn giả chánh thức thuộc vào một trong những tín điều nào.

Như thế, thứ ba ngày 4 tháng 7 là ngày Công giáo : Giáo hội Công giáo chánh thức vắng mặt, không tham dự các công việc của Hội nghị, nhưng Giáo sư Jacques Maritain, ông Lacombe và vài người Công giáo khác đóng vai trò hàng đầu trong tuần lễ Hội nghị. Giáo hội Công giáo vô hình nhưng hiện diện.

“ Nói thật ra thì tầm vóc của Hội Nghị không lớn lắm, cũng không quốc tế như người ta mong ước. Điều nầy do vài hạn chế đặt ra cho các Hội viên :

1. Không một tôn giáo nào được bày tỏ ưu điểm của mình để thu hút tín đồ của tôn giáo khác.

2. Không có vấn đề thống nhứt hay dung hợp các tôn giáo, nhưng chỉ có sự hợp tác giữa các tôn giáo khác nhau đã bị chia rẽ từ trước. Một tôn giáo thống nhứt tổng hợp như Đạo Cao Đài cảm thấy khó chịu trong Hội Nghị; cũng thế, ông Tiếp Dẫn Đạo Nhơn tại Pháp tuyên bố với ông Olivier Lacombe, Phó Chủ tịch Ủy ban Pháp, rằng ông ta là người “tà giáo” duy nhứt trong Hội nghị.

3. Tiến trình của Hội nghị, theo nguyên tắc, được dành cho các tôn giáo lớn và xưa chứng tỏ sự lớn mạnh của họ bởi quá khứ lâu dài. (Lời nói của ông Lacombe ngày 1-7-1939).

“ Ngài Francis Younghusband lúc bấy giờ tuyên bố với ông Gabriel Gobron rằng ông Gobron là người được trọng đãi, được tự do phát biểu và bàn cãi như tất cả mọi người, sau khi ông trình ủy nhiệm thư của cấp thẩm quyền Đạo Cao Đài với Phòng thư ký ở trường Sorbonne.

“ Ông Georges Mandel, Bộ Trưởng Thuộc địa, xác nhận sự tham dự của các phần tử của Đế quốc Pháp tham gia vào các công việc và tranh luận nơi Hội nghị. Do đó, tướng Hasan Husny Abdelwhab ở Tunis một Tùy viên của Cao Ủy Phủ của Syrie, đã được lên  trình bày về Hồi giáo.

Trái lại, ông Tiếp Dẫn Đạo Nhơn tại Pháp của chúng ta không gặp các phần tử  Pháp ở Á châu; Ấn giáo và Phật giáo chỉ được đại diện bởi những người Anh : Tỳ Khưu Thittila (Tu viện Rangoon), Giáo sư Dasgupta (Calcutta), vv…

“ Mỗi ngày, ở Ba-lê cũng như ở Luân đôn năm 1936, có một bài thuyết trình vào buổi sáng, kế đó là tranh luận vào

buổi chiều, sau đó thì đi viếng thăm các cảnh lạ (Điện Versailles, các Viện Bảo tàng, vv. . .) và đến các trung tâm trí thức của Ba-lê (Viện Văn minh Ấn độ, Hồi giáo, Hội Liên hiệp Pháp Anh, vv. . .).

“ Ông Tiếp Dẫn Đạo Nhơn tại Pháp của chúng ta đã phê phán tổ chức Hội nghị ở Luân đôn, nơi đó nhiều bậc trí thức đơn độc, không đại diện cho ai cả (và đôi khi có một chút tự kiêu), đã chiếm diễn đàn trong 1 hoặc 2 giờ.

“ Nay thì Hội nghị ở Ba-lê dành cho những đại diện của các cộng đồng, theo đúng từ ngữ của qui chế Hội nghị tại Sorbonne. Như thế, các người không chuyên nghiệp  và tài tử    phải tránh ra để nhường chỗ cho những đại danh như Giáo sư Jacques Maritain (Viện Công giáo Ba-lê), Giáo sư Dasgupta (Ấn giáo), Bác sĩ  Sié (Đại học Nam kinh), tướng Hasan Husny Abdelwahab, Tử tước Samuel (Cựu Cao ủy ở Palestine), Tỳ khưu Thittila (Tu viện Rangoon), Giáo sư Hauter (Đại học Tin lành Strasbourg), vv. . .

“ Thứ ba, ngày 11 thì chấm dứt các công việc và tranh luận trong tình huynh đệ lịch sự nhứt. Họ chia tay với sự bịn rịn và đau lòng, sau khi biểu quyết những nguyện vọng, các giải pháp, xem xét các dự án, các cải thiện, quyết định địa điểm cho Hội nghị sắp tới ở Hòa Lan, vv. . .

“ Trong số rất nhiều sự việc thú vị, đáng chú ý là nguyện vọng yêu cầu các nhà độc tài cư xử nhân đạo hơn với dân chúng; những lời khen ngợi về công trình hòa bình của ông Chamberlain; lời cảm tạ đối với nhà cầm quyền Pháp đã đối đãi tốt đẹp với các tôn giáo mà không cần chứng minh, khả năng chọn  Strasbourg, Jérusalem, Genève, vv . . . làm nơi Hội nghị sắp tới; sự kêu gọi các Giáo hội nên cho phổ biến các công trình của Hội nghị mà một diễn giả đã nói rằng

.

các chánh trị gia và những người cổ súy họ. Vấn đề người tỵ nạn  được đặt ra cho năm tới.

“ Ủy ban Pháp quyết định tiếp tục tại Ba-lê công việc làm cho các tôn giáo lớn xích lại gần nhau hơn và hiểu biết nhau hơn. Nhiều Hiệp hội liên tôn được chú ý trong thủ đô, cung cấp cho các Hội viên thích tham dự các cuộc hội họp và đóng góp các cố gắng.

Từ đây Hội nghị sẽ thay thế Hội Quốc liên, đã bị đả phá bởi “ Chúng tôi nghĩ rằng, không bao lâu nữa, Đạo Cao Đài sẽ có vai tuồng quan trọng bởi cái gương mẫu sống động của nó, trong các Hội nghị quốc tế về tôn giáo.”

 

5.  Năm 1948 :  (*)  

Chúng ta đã thấy, Đạo Cao Đài là một tôn giáo, một cơ quan của giáo lý, một truyền thống sống động, một triết lý, nói tóm lại là một học thuyết tâm linh.

Anh Gago là một nhà tiên tri giỏi, những Hội Nghị Quốc tế sẽ hưởng ứng lời kêu gọi của các thực thể cao cấp, nhưng điều đó sẽ không dễ dàng.

Ông Henri Regnault đã trình bày bản in đầu tiên của quyển sách nầy cho các Hội viên của Hội nghị lần thứ 3 của Hội Đồng Thần linh học thế giới, họp tại Lausanne (Thụy sĩ) vào tháng 8 năm 1948.

“ Không có một Hội viên nào biết Đạo Cao Đài. Tất cả đều chú ý rằng Đạo Cao Đài có ý  tưởng hợp nhứt tất cả tôn giáo và giúp kiến tạo nền hòa bình nơi thế gian, cái mục đích mà chúng tôi cũng đang theo đuổi.”

_____________________________________________________

Chú thích : Phần nầy do ông Delecourt-Gallois viết sau khi Gabriel Gobron mất. Ngày mất của Gabriel Gobron là 8-7-1941.

Ông Henri Regnault  được Hội nghị  giao trách nhiệm đặt sự liên lạc với những vị lãnh đạo của Đạo Cao Đài để yêu cầu các vị nầy gia nhập vào Hội Đồng Thần linh học thế giới.

Câu trả lời thuận lợi và chắc chắn vào năm 1949, Hội nghị ở nước Ý, Đạo Cao Đài sẽ xứng đáng được danh dự.

 

* * *

Sự thúc đẩy tinh thần của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, lãnh đạo tối cao của Đạo Cao Đài, là đáng kể và ánh sáng rực rỡ của Đạo đã vượt qua những biên giới rộng lớn của miền Viễn Đông để biểu lộ rõ ràng và lớn lao ở Âu Châu và cả trong các nước ở Mỹ Châu.



Tờ báo Le Populaire [Bình Dân] (xuất bản tại Sài Gòn ngày 18-11-1935) loan tin : Ở Tây Ninh, Ngài Phạm Công Tắc kế vị Ngài Lê Văn Trung và trở thành Giáo Tông của Đạo Cao Đài :

“ Nhơn dịp lễ kỷ niệm ngày mất của Ngài Lê Văn Trung, Giáo Tông của Đạo Cao Đài (*), Tòa Thánh Tây Ninh  tổ chức đại lễ trong ba ngày : 8, 9 và 10 tháng 11 vừa qua, có hơn 5 ngàn tín đồ dự lễ.

“ Một Đại hội gồm : Hội Nhơn Sanh và Hội Thánh được tổ chức vào hai ngày 11 và 12 tháng 11, sau khi chấm dứt các buổi lễ, để giải quyết vấn đề khó khăn là việc kế vị Ngài Lê Văn Trung.

“ Hội Nhơn Sanh và Hội Thánh đồng thanh tín nhiệm giao chức vụ nặng nề nầy cho Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc. Tất cả kiến nghị tín nhiệm đều được Đại hội biểu quyết đồng ý.

“ Như thế, một vấn đề gây ra sự chú ý nhiều lần của công luận đã được giải quyết  đúng qui tắc.

“ Chúng tôi mong rằng, dưới quyền lãnh đạo của vị Giáo Tông mới, Đạo Cao Đài sẽ tiến bước êm đềm.

___________________________________________________________________

(*) Chú thích của Dịch giả : Gọi Ngài Lê Văn Trung là Quyền Giáo Tông (Pape intérimaire) thì đúng hơn, vì Ngài chỉ nắm quyền Giáo Tông hữu hình tại thế. Giáo Tông chánh thức của Đạo Cao Đài là Đức Lý Thái Bạch, nắm cả hai quyền : vô vi và hữu hình.

Tờ báo còn thông báo các buổi lễ :

“ Nhơn dịp lễ Kỷ niệm ngày mất của Ngài Lê Văn Trung, Quyền Giáo Tông của Đạo Cao Đài, các cuộc lễ lớn diễn ra trong các ngày : 8, 9, 10 và 11 tháng 11 tại Tòa Thánh Tây Ninh. Đây là  chương trình các buổi lễ :

“ Ngày 8 tháng 11, lúc 14 giờ : Đại lễ mãn tang tại Giáo Tông Đường.

“ Ngày 9 tháng 11, lúc 19 giờ : Thỉnh linh vị vào Đền Thánh; 20 giờ : Cúng tế.

“ Ngày 10 tháng 11, lúc 19 giờ : Thỉnh linh vị ra Đại Đồng Xã.

“ Ngày 11 tháng 11, lúc 6 giờ : Lễ Cúng tế trước Cửu Trùng Thiên. Điếu văn của các Chức sắc Đại Thiên phong.”

 Nhơn dịp Lễ Kỷ niệm Khai Đạo lần thứ 10, tờ báo La Presse indochinoise [Báo chí Đông Dương] (ngày 3-9-1936) nhắc lại cho công chúng Đông Dương biết rằng, Đạo Cao Đài hay là Phật giáo canh tân :

“ Đạo Cao Đài, một Tân tôn giáo phát sanh tại Đông Dương vào năm 1926, đã ban cho những người được khai tâm đầu tiên những bài Thánh giáo của Đức Chí Tôn, Đấng Cao Đài, dưới hình thức là những thông điệp huyền bí mà các đồng tử đã nhận được một cách thận trọng để lưu truyền lại cho đời sau.

“ Vật làm thông công môi giới của Thần linh học cho phép tiếp nhận nhiều thông điệp phát ra từ các bậc đại hiền triết của thời cổ, từ cõi vô hình, giáng điển xuống Tòa Thánh Tây Ninh (Nam Kỳ) một cách đều đặng.

“ Các tín đồ của Đạo Cao Đài càng lúc càng nhiều, được dạy cho biết các kiến thức về giáo lý và luật pháp  của Ba Đấng Giáo chủ : Đức Phật Thích Ca, Lão Tử, Khổng Tử.

“ Những điều giáo huấn tổng quát của Phật giáo là : không sát sanh, không trộm cướp, không  muốn vợ của người khác, không làm chứng dối, không uống rượu.  Phật giáo còn tiến rất xa trong việc tìm đến sự toàn thiện, vì Phật dạy  thương yêu kẻ thù, lời giáo huấn mà phương Tây của chúng ta xem như là một chuyện buồn cười, bởi vì nó đem đến một cảnh tượng đau buồn của lòng thù hận, của sự hung dữ, của sự trả thù mà lịch sử đã ghi lại.

“ Lão giáo mà giáo lý lấy trọn trong sách Đạo Đức Kinh, khai triển song song đến các tư  tưởng triết lý tuyệt diệu của Thiên Chúa giáo, mặc dù Lão giáo xuất hiện trước Thiên Chúa giáo gần 600 năm. Lão giáo dạy tôn thờ sự thật và giữ gìn đức tánh. Điều nầy chứng tỏ rằng người ta có thể gặp nơi các quốc gia (Á đông) xem như còn mọi rợ đối với một Âu châu già nua của chúng ta, sự thực hành những câu phương ngôn dịu hiền và nhân từ, cốt yếu giữ gìn sự hòa hợp và lòng lương thiện giữa loài người.

“ Nho giáo (Khổng giáo) mà những lời giáo huấn không phản đối tinh thần khoa học tân thời của chúng ta, luôn luôn tỏ ra lo âu là muốn nâng cao nhơn loại lên trên các thú tánh bằng cách mở mang phát triển các phẩm chất tốt đẹp, tạo ra một tinh hoa tinh thần và trí thức, để dẫn dắt đến hạnh phúc cho những người bất lực, dốt nát, bởi họ thiếu các yếu tố ban đầu về sự thông minh, lý trí và hiểu biết.

“ Giáo lý của Ba Đấng Giáo chủ thêm vào tôn giáo lòng bác ái và nhân từ của Đấng Christ, sự kính trọng người chết và sự thờ cúng tổ tiên.

“ Tóm lại, Đạo Cao Đài là bằng chứng của lòng khoan dung đại độ đối với tất cả các tôn giáo hiện hữu, bởi vì nó bao gồm tất cả, nó tự cho mình có mục đích  là chống lại tà giáo, gieo vào dân chúng lòng thương yêu điều thiện và thương yêu vạn vật của Thượng Đế, thực hành đạo đức, học tập sự yêu mến công lý và sự nhẫn nhục, phát hiện về luật quả báo các hành động của con người sau khi chết, sự tẩy trược tâm hồn.”

“ Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh từ mấy ngày nay rất nhộn nhịp. Hàng ngàn tín đồ ráo riết làm việc để hoàn thành các việc chuẩn bị lễ Kỷ niệm người quá cố cho xứng đáng.

Cuộc lễ bắt đầu từ thứ năm ngày 26 tháng 11 lúc 19 giờ, kéo dài trong 3 ngày. Hội Thánh sẽ thiết lễ. Cũng trong dịp nầy, sự tự do thờ cúng mà chủ nghĩa tự do của Chánh phủ Pháp được ban cho tôn giáo. Tất cả địa phương của Đạo Cao Đài ở Đông Dương đều được kêu gọi về Tòa Thánh dự lễ.

Một chương trình vĩ đại được tiên liệu : Đốt đuốc, cộ hoa rực rỡ, pháo bông.  Một đại lễ sắp diễn ra.

Người ta quả quyết rằng, đây là cuộc lễ lớn nhứt từ khi lập Đạo Cao Đài.”

 

Tờ báo La Vérité [Sự thật] (ngày 20-11-1936) báo cáo những sự việc vui vẻ bằng từ ngữ : “ Nơi Tòa Thánh Cao Đài, 20 ngàn tín đồ làm lễ Kỷ niệm Khai Đạo lần thứ 10 và lễ mãn tang Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung.”

Ngày 28 tháng 11, đặc phái viên của chúng tôi gởi về : Từ tất cả các nơi ở Nam Kỳ, Cao Miên, cả vài bộ tộc thiểu số (Mọi), hàng ngàn tín đồ đi đến Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh vào các ngày nầy để dự lễ Đại Tường và tiếp theo là lễ mãn tang Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung.

“ Đúng 2 năm, Đức Quyền Giáo Tông của Đạo Cao Đài từ trần - dùng một từ ngữ tỏ ý tôn kính : qui Thiên.

“ Sự chia rẽ trong Đạo Cao Đài thành hai phe lớn đối nghịch nhau sắp hoàn toàn tiêu hủy nhơn dịp bổ nhiệm người kế vị. Nơi Thánh địa, Hội Thánh thận trọng chỉ định Ngài Phạm Công Tắc vào chức vụ lãnh đạo tối cao tạm thời, nhưng không cho một danh hiệu chánh thức của tôn giáo.

“ Còn ở Mỹ Tho, ông Nguyễn Ngọc Tương được ban cho danh hiệu Giáo Tông bởi vài trăm tín đồ. Vị Giáo Tông mới nầy được bổ nhiệm như thế, được hộ tống bởi một đám đông ủng hộ, đến Tòa Thánh Tây Ninh để nhậm chức và cũng để tham dự lễ Đại Tường.

“ Cổng vào Tòa Thánh của Đạo Cao Đài bị cấm, không cho vị đứng đầu chi phái Mỹ Tho vào, bởi vì chỉ có nơi Thánh địa, lời nói chơn thật và thiêng liêng (của Đức Chí Tôn) truyền dạy các Chức sắc cao cấp của Đạo do cơ bút của đồng tử. Phải chăng Đấng Cao Đài đã chỉ định Ngài Phạm Công Tắc vào phẩm vị lãnh đạo tối cao của Đạo ?

 “ Người ta hiểu rằng, từ đây, tại sao các vị lãnh đạo Cao Đài tổ chức lễ Đại Tường huy hoàng hiếm có. Những cộ hoa đi diễn hành trong tỉnh lỵ Tây Ninh không bị Tỉnh trưởng ngăn cấm. Chúng tôi nghĩ rằng, sự ngăn cấm đó không chánh đáng, bởi vì tất cả đều diễn ra trong bình yên ở khắp nơi. Cộ hoa, rước đuốc, pháo bông trong 3 ngày lễ làm tăng thêm sự vui mừng của dân chúng. Ánh sáng đèn điện rực rỡ làm cho vùng Thánh địa có vẻ là một thành phố nhỏ náo nhiệt.

“ Chúng tôi có gặp các vị lãnh đạo cao cấp nhứt. Người đứng đầu hiện thời của Đạo mà chúng tôi trước đây đã sát cánh cùng nhau trước khi cải sang Đạo Cao Đài, đã  làm việc trong Sở Thương chánh, trong lúc đó, người bạn thời niên thiếu của chúng tôi là Lê Thế Vĩnh, Trưởng ban Nghi lễ, đã chiến đấu như là “Thanh niên Việt Nam” để cải thiện số phận của dân tộc Việt Nam.

“ Chiều nay là lễ mãn tang Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung, những bài diễn văn sẽ được đọc lên cho chúng ta biết về tình hình hiện tại của nền Đạo Cao Đài, những khuynh hướng, những khả năng và về tương lai của  Đạo.

“ Người ta biết rằng, Đạo Cao Đài phát sinh từ năm 1926, dưới sự  thúc giục của phong trào xây bàn  nhập cảng từ nước Pháp. Nhưng có điều quần chúng không biết là có một người Pháp lai, độc giả trung thành của Léon Denis và Allan Kardec, đã bỏ tiền túi ra để đi truyền bá những tư  tưởng về Thần linh học trong thuộc địa, việc nầy góp phần không ít vào sự phát triển nhanh chóng lạ thường của nền Tân tôn giáo, đặt trên cùng một hàng Bốn Đấng Giáo chủ : Khổng Tử, Lão Tử, Thích Ca và Jésus Christ. Chủ nghĩa tổng hợp lạ thường nầy giải thích rõ hơn nữa sự thành công mau lẹ của phong trào bên cạnh những người VN và cả người Cao Miên nữa.

“ Chánh phủ Pháp có thể lo sợ trong một lúc nào đó về nền Tân tôn giáo phát sinh chậm trễ giữa thế kỷ 20 nầy, nhưng về sau, những nhà lãnh đạo tôn giáo của chúng ta được phép truyền đạo nơi Bắc Kỳ, những phái bộ truyền giáo Cao Đài được đi Pháp, Trung hoa.

“ Sự biểu lộ hiện thời tại Tây Ninh, phải chăng là điểm khởi đầu cho sự củng cố và bành trướng phong trào, đã bị ngưng trệ trong suốt năm qua ?

“ Phải chăng các vị lãnh đạo tôn giáo Cao Đài nuôi tham vọng trở thành những nhà lãnh đạo tinh thần của một phần Viễn Đông nhờ vào sự phát triển của Đạo Cao Đài ?

“ Một tương lai không xa sẽ cho chúng ta cái chìa khóa của những bí ẩn nầy.”

                                             SROK - SAROU

                                              (Đặc phái viên)

 

*

*     *

Đạo Cao Đài càng lúc càng hướng đến sự hợp nhứt. Hợp nhứt giữa các tôn giáo bên ngoài vào chính nó, hợp nhứt nội bộ, hòa hợp đẹp đẽ chung quanh Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, Ngài là một trong những tín đồ đầu tiên được lựa chọn và được chỉ định bởi Đấng Cao Đài, THẦY thiêng liêng, và là một trong những vị sáng lập Đạo Cao Đài.

Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc là vị chưởng quản, là đồng tử cảm hứng được chỉ định của Hiệp Thiên Đài, Hội Đồng tối cao của các đồng tử. Đây là một loại Thánh Vụ để tuyên bố và bảo toàn giáo lý thuần khiết, cũng phụ trách cơ quan tư pháp của Đạo.

Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc được tuyên bố là lãnh đạo tối cao của Đạo Cao Đài bởi Hội Nhơn Sanh và bởi Hội Thánh, để thay thế  Cố Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung  đã thoát xác qui Thiên năm 1934.

Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc là một đồng tử cảm hứng có tính cách thần bí cao siêu và giống như, một cách tổng quát, Đức Ngài là người thần bí thực sự và Đức Ngài cũng là một người vĩ đại về thực hiện và tổ chức.

Đức Ngài là một nhà kiến trúc đặc sắc vì chính Đức Ngài đã thiết kế họa đồ xây cất Đền Thờ của Đạo Cao Đài ngày nay là Tòa Thánh mà trong quyển sách nầy có nhiều bức ảnh in lại. Đức Ngài thiết kế các họa đồ và đích thân coi sóc từng điểm một, tất cả các chi tiết của việc xây dựng và của việc trang trí rất lộng lẫy.

*

*    *

Cánh tay mặt của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc là Ngài Trần Quang Vinh, đương kim Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng của Chánh phủ Trung ương lâm thời của nước Việt Nam từ ngày 1-6-1948.

Ngài Trần Quang Vinh là một Chức sắc Cao Đài từ năm 1927. Ngài leo lên các nấc thang của hệ thống Chức sắc : Lễ Sanh, Giáo Hữu, Giáo Sư, kế đó là Phối Sư. Ngài là Chủ trưởng Hội Thánh Ngoại Giáo của Đạo Cao Đài. Với phẩm tước nầy, Ngài ở tại Cao Miên từ năm 1927 đến 1941.

Từ năm 1942 đến 1948, Ngài là đại diện của của vị lãnh đạo tối cao của Đạo Cao Đài nên thường ở tại Sài Gòn.

Người sáng lập, người tổ chức và Tổng Chỉ huy của quân đội Cao Đài.

Vào năm 1931, Ngài được phái sang nước Pháp và ở đó Ngài tạo lập được một hạt nhân của các Chức sắc và tín đồ người Pháp, trong đó có ông Gabriel Gobron, Anh Gago và vợ của ông là Bà Marguerite Gabriel Gobron, hiện nay ai  muốn có tài liệu về Đạo Cao Đài tại Pháp thì ngỏ lời với Bà :

Địa chỉ : 

Mme  Vve Gabriel Gobron,

9, rue de Serre,

à Nancy (Meurthe-et-Moselle).

 

* * * * *

Chú thích : Phần nầy do ông Delecourt-Gallois viết sau khi Gabriel Gobron mất. Ngày mất của Gabriel Gobron là 8-7-1941.


Top of Page

      HOME