Giải Nghĩa KINH THIÊN ÐẠO & THẾ ÐẠO

 

MỤC LỤC

► Phần Giới Thiệu
► Kinh Thiên Ðạo
► Kinh Thế Ðạo
►Tìm nghĩa các chữ khó trong Kinh

Kinh Sám Hối


 

KINH SÁM HỐI

 

I. Nguồn gốc bài Kinh Sám Hối:

Kinh Sám Hối được các Ðấng Tiện, Phật giáng cơ ban cho Minh Lý Ðạo (Tam Tông Miếu), kể từ ngày 27-3-Ất Sửu (dl 19-4-1925) cho đến ngày mùng 6-10-Ất Sửu (dl 21-11-1925) mới dứt kinh. Thời gian giáng cơ cho Kinh kéo dài hơn 7 tháng. Các Ðấng giáng cơ cho Kinh là: Ðức Thái Thượng Lão Quân, Ðức Quan Âm Bồ Tát, Ðức Nam Cực Chưởng Giáo, Ðức Quan Thánh Ðế Quân, Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật, Ðức Tây Ba Ðế Quân, Ðức Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, Ðức Khổng Thánh Tiên Sư, Thập Ðiện Minh Vương, Ðức Lữ Tổ, Ðức Alfred Aya, Ðức Vân Trung Tử.

Mỗi vị giáng cơ ban cho một đoạn kinh, cứ nối tiếp theo hoài cho đến khi dứt kinh.

Ngay sau khi dứt Kinh Sám Hối, Ðức Ðông Phương Lão Tổ (biệt hiệu của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân) giáng tiếp ban cho Bài Khen Ngợi Kinh Sám Hối. Ấy là trọn vẹn.

Ông Âu Minh Chánh, vị sáng lập Minh Lý Ðạo (Tam Tông Miếu) có viết thuật lại như sau (ngày viết 10-6-Ðinh Mão, dl 8-7-1925):

"Một khi kia, đến cầu kinh giùm một người bằng hữu thọ bịnh tại Thủ Thiêm, có Ðức Thái Thượng Lão Quân giáng xuống mà cho một khoản đầu KINH SÁM HỐI.

Sau lần lần, mỗi khi cúng, có Tam Giáo Ðạo Chủ hoặc là chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần, hoặc là Thập Ðiện Minh Vương giáng đàn cho tiếp Kinh Sám Hối.

Cũng tưởng rằng Thần Tiên cho kinh đó đặng làm phước giúp người mà thôi, không dè Ðức Văn Tuyên Vương giáng dạy chúng tôi phải kiếm một cảnh chùa đặng ngày sóc vọng đến đó dưng hương và Sám Hối."

Khi mới khai Ðạo Cao Ðài, Ðức Chí Tôn dạy Phật giáo và 5 Chi Minh Ðạo dâng Kinh cho ÐÐTKPÐ. Do đó, Hội Thánh cử phái đoàn gồm Ðức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung, Thượng Giáo Sư Vương quan Kỳ, Ðức Phạm Hộ Pháp và Ðức Cao Thượng Phẩm đến Minh Lý Ðạo thỉnh bài Kinh nầy về làm Kinh ÐÐTKPÐ.

Lúc đó Kinh Sám Hối được gọi là Kinh NHƠN QUẢ.

 

II. Nội dung Kinh Sám Hối.

Kinh Sám Hối gồm 444 câu thơ song thất lục bát, là một áng văn chương tuyệt tác siêu phàm, và đó cũng là một công trình tập thể của nhiều Ðấng Phật, Tiên, Thánh, trong Tam Giáo, nhất là có sự tham dự của Thập Ðiện Diêm Vương nơi cõi Ðịa Ngục.

Nhờ bài Kinh Sám Hối nầy, nhơn sanh biết được trong thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ, những người hung ác nơi cõi trần, khi chết, linh hồn và chơn thần bị Quỉ sứ bắt giam vào Ðịa ngục, chịu những hình phạt vô cùng thảm khốc để đền bù tội lỗi.

Nhưng khi Ðức Chí Tôn mở Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ vào năm Bính Dần (1926), là kỳ Phổ Ðộ chót để tận độ chúng sanh trước khi Tận Thế, mở Ðại Hội Long Hoa, chấm dứt một chu kỳ tiến hóa của nhơn loại, chuyển qua thời kỳ Thánh đức, Ðức Chí Tôn đại khai Ân xá cho các đẳng linh hồn, đóng cửa Ðịa Ngục, giải phóng các tội hồn, cho đi đầu thai trả quả.

Ðức Chí Tôn có hứa với Ðức Phạm Hộ Pháp là ngày giờ nào Ðức Phạm Hộ Pháp thoát xác, trước khi trở về cõi TL, Ðức Hộ Pháp sẽ đi qua cõi Ðịa ngục để giải phóng các chơn hồn oan khúc tội tình đặng cho họ, hoặc siêu thăng, hoặc đi đầu thai trả quả. (TÐ.ÐPHP, Con đường TLHS, trang 124).

Ðức Phạm Hộ Pháp thoát xác qui Thiên vào ngày 10-4-Kỷ Hợi [1959]. Như thế, cõi Ðịa ngục được hoàn toàn đóng cửa vào năm nầy. Từ đây trở về sau, các hồn tội lỗi được đưa đến cõi Âm Quang để học đạo và tịnh tâm xét mình, có Ðịa Tạng Vương Bồ Tát giáo hóa các Nam tội hồn và Thất Nương DTC giáo hóa các Nữ tội hồn.

 

III. Chú thích Kinh Sám Hối.

Trong phần chú thích các từ ngữ khó trong Kinh Sám Hối, soạn giả có đối chiếu bản Kinh Sám Hối in trong Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo do Hội Thánh ấn hành, với bản Kinh Nhơn Quả, in trong quyển Kinh Cúng Tứ Thời cũng do Hội Thánh ấn hành vào năm 1928, và bản Kinh Sám Hối của Minh Lý Ðạo in năm 1973, để điều chỉnh cho đúng chánh tả một vài từ ngữ cho hợp với nghĩa lý của câu Kinh, và soạn giả có ghi trong phần KHẢO DỊ.

Viết tắt trong phần KHẢO DỊ:

  • Kinh TÐ-TÐ: Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo.

  • KSH. MLÐ: Kinh Sám Hối của Minh Lý 1973.

  • Kinh NQ: Kinh Nhơn Quả in năm 1928.

 

Kinh Sám Hối

(Giọng Nam xuân)

 

1. Cuộc danh lợi là phần thưởng quí,
Ðấng Hóa Công xét kỹ ban ơn.
Lòng đừng so thiệt tính hơn,
Ngày đêm than thở dạ hờn ích chi.
5. Người sang cả là vì duyên trước,
Kẻ không phần luống ước cầu may.
Sang giàu chẳng khác như mây,
Khi tan khi hiệp đổi xây không thường.

CHÚ THÍCH

SÁM HỐI: Sám là ăn năn những lỗi lầm đã qua và thật lòng muốn sửa đổi, quyết không tái phạm; Hối là tự giận mình đã làm điều sái quấy. Sám hối là ăn năn và tự giận mình về những lỗi lầm do mình gây ra, tự nguyện sửa đổi, quyết không tái phạm.

Sách Nho định nghĩa Sám Hối là: "Sám giả sám kỳ tiền khiên, Hối giả hối kỳ hậu quá." Nghĩa là: Sám là ăn năn lỗi trước, Hối là chừa bỏ lỗi sau.

Hội Thánh có dặn rằng: "Kinh Sám Hối nầy nên tụng ngày Sóc Vọng, còn ngày thường lỡ có lầm lỗi điều chi, phải tụng mà xin tội."

Danh lợi: Danh là tiếng tăm, lợi là lợi lộc. Danh lợi là tiếng tăm và lợi lộc. Ðó là 2 thứ mà người đời rất ham thích, muốn đoạt lấy về cho mình càng nhiều càng tốt.

Cuộc danh lợi: Việc danh và lợi trong cuộc sống.

Hóa công: Hóa là tạo hóa, Công là người thợ. Hoá công là ông Thợ Tạo Hóa, tạo ra CKVT và vạn vật. Ðó là Ông Trời, là Ðấng Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế.

So thiệt tính hơn: So sánh hơn kém, tính toán lợi hại.

Sang cả: Sang là cao quí, cả là lớn, nhiều. Sang cả là sang trọng lắm, vẻ vang lắm.

Duyên trước: Chữ Hán là Tiền duyên, duyên là mối dây ràng buộc được định sẵn từ trước. Duyên trước là mối dây được dịnh sẵn từ kiếp trước. Nếu kiếp trước mình làm điều lương thiện đạo đức thì tạo được Duyên lành, khiến cho đời sống hiện tại được giàu sang vinh hiển hạnh phúc.

Không phần: Chữ Hán là Vô phần, Phần là cái số phận mà Trời định sẵn cho mình. Vô phần hay Không phần là số phận bạc bẽo, vất vả, đau đớn ê chề. Nói là Trời định, chớ thật ra cái Nghiệp của mình định cho mình. Trời lập ra Luật Nhơn Quả, và cầm Cây Cân Công Bình thiêng liêng giữ cho sự báo ứng được đúng phép công bình.

Luống: Nhiều lần. Luống ước: Mong ước nhiều lần.

Cầu may: Mong cầu được may mắn.

Hai câu 7-8: Sự giàu sang không bền bỉ, nó chẳng khác gì một đám mây trên bầu Trời, khi tan khi tụ rất mau chóng, không chừng mực.

Muốn cho sự giàu sang được bền bĩ thì phải biết dùng tiền bạc bố thí, giúp đỡ người hoạn nạn nghèo khổ và làm những việc công đức khác như làm cầu, sửa đường, cất trường học, xây chùa,  thì sẽ tạo được phước lành, hưởng được quả lành về sau.

 

9. Việc sanh tử như đường chớp nhoáng,
Bóng quang âm ngày tháng dập dồn.
Giữ cho trong sạch linh hồn,
Rèn lòng sửa nết, đức tồn hậu lai.
13. Ðiều họa phước không hay tìm tới,
Tại mình vời nên mới theo mình.
Cũng như bóng nọ tùy hình,
Dữ lành hai lẽ công bình thưởng răn.

CHÚ THÍCH

Việc sanh tử: Việc sống chết, chỉ một đời sống của con người từ lúc sanh ra cho đến lúc chết.

Ðường chớp nhoáng: Ðường sáng răng cưa nhìn thấy trên bầu Trời do sấm sét gây ra, chỉ hiện ra trong giây lát rồi tắt. Ý nói: Khoảng thời gian rất ngắn.

Bóng quang âm: Chỉ ngày và đêm. Bóng là ánh sáng, quang là sáng [ngày], âm là tối [đêm]. Dập dồn: Dồn dập.

Trong sạch linh hồn: Linh hồn trong sạch trong một Chơn thần trong sạch, Chơn thần trong sạch trong một thể xác trong sạch. Muốn thể xác trong sạch thì phải giữ cho thân, khẩu, ý trong sạch, và phải ăn chay trường.

Ðức tồn hậu lai: Cái đức tồn tại lâu dài về sau.

Bóng nọ tùy hình: Cái hình thế nào thì cái bóng hiện ra thế ấy, ý nói: Nhơn nào thì quả nấy, không hề sai chạy.

KHẢO DỊ:

- KSH MLÐ:

  • Tại mình vời.

- Kinh NQ , Kinh Lễ, Kinh TÐ-TÐ 1936, 1968, 1974:

  • Tại mình dời.

Vời: Mời đến, triệu đến. Dời: Ðổi chỗ khác.

 

17. Khi vận thới lung lăng chẳng kể,
Lúc suy vi bày lễ khẩn cầu.
Sao bằng ở phải buổi đầu,
Thần minh chánh trực có đâu tư vì.
21. Người làm phước có khi mắc nạn,
Kẻ lăng loàn đặng mạng giàu sang.
Ấy là nợ trước còn mang,
Duyên kia chưa dứt còn đang thưởng đền.

CHÚ THÍCH

Vận thới: Vận là thời vận, thới hay thái là hanh thông thịnh vượng. Vận thới là thời vận hanh thông, thịnh vượng.

Suy vi: Suy là kém sút dần, vi là thấp hèn. Suy vi là sa sút đến độ nghèo nàn, thấp hèn. Bày lễ khẩn cầu: Ðem lễ vật bày ra cúng để cầu khẩn Thần linh. Ở phải: Ăn ở đúng theo lẽ phải, đạo đức. Thần minh: Vị Thần sáng suốt.

Chánh trực: Ngay thẳng. Tư vì: Tư vị, thiên lệch.

Lăng loàn: Có hành vi hỗn xược, không tùng phép tắc.

Câu 21-22: Người làm phước có khi mắc nạn là vì việc làm phước trong kiếp hiện tại chưa đủ để đền trả những oan nghiệt đã gây ra trong kiếp trước. Không phải vì làm phước mà mắc nạn. Nếu người đó không làm phước thì tai nạn còn dồn dập tới nhiều hơn nữa, nhờ làm phước như vậy nên tai nạn mới giảm bớt và còn như thế đó.

Kẻ lăng loàn đặng mạng giàu sang, là vì cái phước đức của nó ở kiếp trước còn, chừng nào phước đức ấy hết thì nó sẽ suy sụp thê thảm. Ðừng nghĩ rằng vì nó lăng loàn mà được giàu sang. Luật Nhơn quả không bao giờ sai chạy.

 

25. Nếu vội trách người trên thì đọa,
Cũng có khi tai họa trả liền.
Ðó là báo ứng nhãn tiền,
Mau thì mình chịu, lâu truyền cháu con.
29. Lo danh vọng hao mòn thân thể,
Ham làm giàu của để bằng non.
Một mai nhắm mắt đâu còn.
Ðem vàng chuộc mạng đổi lòn đặng chăng.

CHÚ THÍCH

Người trên: Người ở bực cao hơn mình, ở đây chỉ các Ðấng Thiêng liêng. Ðọa: Ðày xuống chỗ thấp kém khổ sở.

Báo ứng nhãn tiền: Báo ứng là báo đáp lại, nhãn tiền là trước mắt nghĩa là xảy ra liền, thấy trước mắt. Báo ứng nhãn tiền là báo đáp lại liền, xảy ra ngay trước mắt.

Câu 28: Sự báo ứng xảy ra nhanh thì mình chịu, còn xảy ra lâu, qua kiếp khác thì con cháu mình phải đền trả.

Danh vọng: Danh là tiếng tăm, vọng là ngưỡng mộ. Danh vọng là có tiếng tăm được nhiều người ngưỡng mộ.

Câu 29: Muốn có danh vọng thì phải tính toán trăm phương ngàn kế, làm việc mất ăn mất ngủ mới tạo được, thân thể phải hao mòn, sức khỏe phải suy giảm.

Của để bằng non: Của cải, tiền bạc kiếm được nhiều chất lại thành đống lớn như núi. Nhắm mắt: Chết.

Chuộc mạng: Ðem vàng bạc đổi lấy mạng sống.

Ðổi lòn: Hạ mình luồn cúi để cầu xin trao đổi.

Câu 31-32: Mai kia nhắm mắt chết rồi thì có đem vàng bạc lòn cúi chuộc lại mạng sống của mình đặng chăng?

 

33. Trên đầu có bủa giăng Thần Thánh,
Xét xem người tánh hạnh dữ hiền.
Làm lành đặng hưởng phước duyên,
Trong lòng nham hiểm, lộc quyền giảm thâu.
37. Ðừng tính kế độc sâu trong dạ,
Mà gổ ganh oán chạ thù vơ.
Trái oan nào khác mối tơ,
Rối rồi không gỡ, bao giờ cho ra.

CHÚ THÍCH

Bủa giăng: Bủa là phân rộng ra các phía, giăng là kéo ra theo bề dài. Bủa giăng là bao phủ khắp nơi.

Câu 33: Trên đầu của mỗi người lúc nào cũng có chư Thần Thánh hiện diện đầy đủ khắp nơi để xem xét.

Phước duyên: Phước là điều may mắn tốt lành, Duyên là cái sức bổ trợ cho cái Nhân thành cái Quả. Phước duyên là điều may mắn tốt lành do việc làm lành báo đáp lại. Nham hiểm: Ðộc ác một cách kín đáo, khó phát hiện ra được.

Câu 36: Ðối với người nham hiểm sâu độc thì chư Thần Thánh sẽ thâu lợi lộc và quyền hành cho giảm bớt lại.

Gổ ganh: Gây gổ vì ganh tỵ. Oán chạ thù vơ: Thù oán bậy bạ, không có lý do chánh đáng.

Trái oan: Trái là món nợ, oan là thù giận. Trái oan là món nợ về thù giận. Mình vô cớ làm thiệt hại người thì người ta thù giận mình, mình mắc một món nợ oan nghiệt.

Hai câu 39-40: Oán thù nên gỡ, không nên kết, vì nó như sợi tơ, càng kết càng rối, càng gây thêm đau khổ và phiền não, rồi cứ oan oan tương báo, biết chừng nào mới dứt được.

 

41. Thấy hình khổ dạ ta đâu nỡ,
Khuyên làm lành trừ đỡ tội căn.
Quấy rồi phải biết ăn năn,
Ở cho nhân hậu, chế răn lòng tà.
45. Hãy có dạ kỉnh già thương khó,
Chớ đem lòng lấp ngõ tài hiền.
Xót thương đến kẻ tật nguyền,
Ðỡ nâng yếu thế, binh quyền mồ côi.

CHÚ THÍCH

Hình khổ: Hình phạt khổ sở. Dạ ta: Lòng dạ của ta.

Ðâu nỡ: Không thể ép lòng mà chịu được.

Tội căn: Tội lỗi đã gây ra trong kiếp trước. Căn là gốc rễ, chỉ những việc làm trong kiếp sống trước.

Nhân hậu: Nhân là lòng thương người mến vật, Hậu là dày dặn. Nhân hậu là lòng nhân từ dày dặn.

Chế răn: Kềm chế và dạy bảo cho biết điều sái quấy.

Lòng tà: Lòng dạ gian xảo, ham muốn bậy bạ.

Kỉnh già thương khó: Kính trọng người già cả, thương xót người nghèo khó.

Lấp ngõ tài hiền: Lấp ngõ là bít đường. Tài hiền là hiền tài, người có tài đức hơn người. Lấp ngõ tài hiền là chận đường không cho người tài giỏi tiến thân, vì sợ người đó làm lu mờ danh vọng của mình. Tứ Ðại Ðiều Qui có ghi: Chớ che lấp người hiền, đừng cậy quyền mà yểm tài người.

Tật nguyền: Tàn tật với mức độ lớn, như què, câm,đui.

Binh quyền mồ côi: Binh vực quyền lợi của kẻ mồ côi.

 

49. Làm con phải trau giồi hiếu đạo,
Trước là lo trả thảo mẹ cha.
Lòng thành thương tưởng ông bà,
Nước nguồn cây cội mới là tu mi.
53. Giá trong sạch nữ nhi trượng tiết,
Giữ cho tròn trinh liệt mới mầu.
Ở sao đáng phận đạo dâu,
Thờ chồng tiết hạnh mới hầu gái ngoan.

CHÚ THÍCH

Hiếu đạo: Hiếu là hết lòng kính yêu và chăm sóc cha mẹ, đạo là đường lối mà con người có bổn phận phải gìn giữ và tuân theo. Hiếu đạo là nói về bổn phận làm con đối với cha mẹ: Làm con phải có lòng hiếu thảo.

Ðạo dâu: Bổn phận làm con dâu trong nhà chồng.

Nước nguồn cây cội: Cây có cội, nước có nguồn, con người có cha mẹ. Ý nói phải nhớ đến nguồn gốc của mình.

Tu mi: Tu là râu, mi là lông mày. Tu mi là râu mày, chỉ đàn ông con trai. Giá trong sạch: Con gái có chồng phải giữ lòng trong sạch với chồng. Giá là con gái lấy chồng.

Nữ nhi: chỉ chung đàn bà con gái. Nhi là con trẻ.

Trượng tiết: Trượng là trọng, kính trọng; tiết là khí tiết, lòng dạ cứng cỏi ngay thẳng. Trượng tiết là tôn trọng cái tiết hạnh của mình. Trinh liệt: Trinh là lòng ngay thẳng của vợ đối với chồng, liệt là cứng cỏi không chịu khuất.

Mầu: Tài giỏi và có tính cách cao siêu. Mới mầu: Mới tài giỏi cao siêu. Mới hầu: Mới mong.

 

57. Ðừng có cậy giàu sang chẳng nể,
Không kiêng chồng, khi dể công cô.
Ấy là những gái hung đồ,
Xúi chồng tranh cạnh hồ đồ sân si.
61. Tánh ngoan ngạnh không vì cô bác,
Thói lăng loàn bạn tác khinh khi.
Ngày sau đọa chốn Âm Ty,
Gông kềm khảo kẹp, ích gì rên la.

CHÚ THÍCH

Kiêng: Nể sợ. Công cô: Cha mẹ chồng. Công là cha chồng, cô là mẹ chồng. Hung đồ: Bọn hung dữ. Ðồ là bọn.

Hồ đồ: Không hiểu rõ sự việc phải quấy mà hấp tấp giải quyết khiến nhiều người bất bình phẩn nộ. Sân si: Sân là giận, si là mê muội. Sân si là giận dữ mê muội, mất khôn.

Ngoan ngạnh: Chữ Hán, ngoan là làm càn bậy, ngạnh là ngăn trở. Ngoan ngạnh là bướng bỉnh, càn bậy, không nghe lời khuyên dạy đúng đắn. Tác: Tuổi tác. Bạn tác: Bạn cùng lứa tuổi. Âm Ty: Cơ quan ở cõi Âm phủ. Ty là một cơ quan.

Gông kềm khảo kẹp: Dùng gông mang vào cổ, dùng kềm kẹp tay chân, khảo tra hành hình các tội hồn ở Âm phủ.

KHẢO DỊ:

- KSH. MLÐ:

  • khi dể ông cô.

- Kinh NQ, Kinh TÐ-TÐ 1936, 1968, 1974, 1975:

  • khi dể công cô.

Ông cô đồng nghĩa Công cô.

- KSH. MLÐ, Kinh NQ, Kinh TÐ-TÐ 1936, Kinh Lễ:

  • mồ đồ sân si.

- Kinh TÐ-TÐ 1968, 1974, 1975:

  • hồ đồ sân si.

Hồ đồ đồng nghĩa Mồ đồ. Mồ đồ là từ ngữ xưa.

 

65. Người tai mắt đạo nhà khá giữ,
Nghĩa anh em cư xử thuận hòa.
Vẹn tròn đạo cả giềng ba,
Kính anh mến chị thì là phận em.
69. Trên thương dưới xét xem kẻ nhỏ,
Lúc lâm nàn chớ bỏ tránh xa.
Cũng là một gốc sanh ra,
Gồm bao nâng đỡ, ruột rà thương nhau.

CHÚ THÍCH

Người tai mắt: Người hiểu biết nhiều và có danh vọng.

Ðạo nhà: Phép tắc cư xử giữa những người trong gia đình.

Nghĩa anh em: Nghĩa là cách cư xử đúng theo đạo lý. Nghĩa anh em là cách cư xử giữa anh em ruột đúng đạo lý, tức là phải thương yêu đùm bọc và thuận hòa cùng nhau.

Ðạo cả: Mối đạo lớn của con người. Ðó là Nhơn đạo, vì Nhơn đạo là căn bản. Có làm tròn Nhơn đạo thì mới tầm lên Tiên đạo được. (Nhơn đạo bất tu, Tiên đạo viễn hỹ.) Theo Nho giáo, Nhơn đạo của người Nam gồm: Tam cang và Ngũ thường (Ba giềng và Năm hằng), Nhơn đạo của người phụ nữ gồm: Tam tùng và Tứ đức.

Giềng ba: Ba giềng, dịch chữ Tam cang. Tam cang gồm: Quân thần cang [Giềng mối vua tôi], Phụ tử cang [Giềng mối cha con], Phu thê cang [Giềng mối vợ chồng].

Lâm nàn: Lâm là tới, nàn là tai nạn. Lúc lâm nàn là lúc tai nạn tới.

Câu 72: Anh em ruột thịt thì phải bao gồm việc thương yêu và trợ giúp nâng đỡ nhau.

 

73. Người trung trực lo âu việc nước,
Hưởng lộc vua tìm chước an bang.
Chớ làm con giặc tôi loàn,
Thuế sưu đóng đủ, đừng toan kế tà.
77. Phận làm tớ thật thà trung tín,
Với chủ nhà trọn kính trọn ngay.
Áo cơm no ấm hằng ngày,
Của người châu cấp ơn dày nghĩa sâu.

CHÚ THÍCH

Trung trực: Trung là trung thành, trực là ngay thẳng. Trung trực là trung thành và ngay thẳng.

Nợ nước: Nghĩa vụ đối với quốc gia.

Hưởng lộc vua: Vua là biểu tượng của một nước. Hưởng lộc vua là hưởng lộc nước, tức là thọ hưởng quyền tước và lương bổng của quốc gia. Tìm chước: Tìm ra kế hoạch.

An bang: An là yên ổn, bang là nước. An bang là làm cho nước được yên ổn thái bình.

Con giặc: Người dân làm giặc, chống lại nhà nước.

Tôi loàn: Làm quan mà dấy loạn, phản lại nhà nước.

Thuế sưu: Thuế là tiền phải đóng góp cho nhà nước để dùng vào công ích. Sưu là phần đóng góp bằng sức lực vào các công trình ích nước lợi dân, như đắp đê, làm đường, bắc cầu, làm thủy lợi,... Toan: Có ý định.

Kế tà: Mưu kế gian xảo để làm hại người lợi mình.

Trung tín: Trung thành và tín nhiệm.

Châu cấp: Cấp cho đầy đủ, bảo đảm được cuộc sống.

 

81. Ðừng gặp việc câu mâu biếng nhác,
Mà quên lời phú thác dặn dò.
Trước người giả bộ siêng lo,
Sau lưng gian trá, so đo tấc lòng,
85. Phải chừa thói loài ong tay áo,
Bớt học đòi khỉ dạo dòm nhà,
Gìn lòng ngay thẳng thật thà,
Nói năng minh chánh, lời ra phải nhìn.

CHÚ THÍCH

Biếng nhác: Nhác là làm biếng. Biếng nhác là lười biếng. Phú thác: Phú là giao cho, thác là gởi gấm. Phú thác là giao cho và gởi gấm với lòng tin cậy.

Giả bộ: Làm ra bộ tịch như vậy, chớ không thực lòng.

Gian trá: Gian xảo và tráo trở. So đo tấc lòng: Lòng dạ hẹp hòi, so sánh đo lường hơn thiệt từng ly từng tí.

Loài ong tay áo: Do thành ngữ: Nuôi ong tay áo, nghĩa là: Hễ nuôi con ong trong tay áo thì thế nào cũng bị ong chích. Ý nói: Kẻ phản bội, ăn cơm chủ trở lại hại chủ.

Khỉ dạo dòm nhà: Do thành ngữ: Nuôi khỉ dòm nhà. Loài khỉ có tánh hay bắt chước một cách vô ý thức, thấy chủ nhà nhúm lửa nấu cơm, khi vắng chủ nhà, nó bắt chước xuống bếp nhúm lửa, làm lửa cháy lên, lan qua thành cháy nhà.

Khỉ dạo là chỉ chung loài khỉ vượn. Khỉ dạo dòm nhà là có ý nói: Cái tánh hay bắt chước vô ý thức rất tai hại.

Minh chánh: Trong sáng và ngay thẳng.

Lời ra phải nhìn: Ý nói: Phải giữ lời hứa, phải nhìn nhận lời nói của mình, không được nuốt lời.

 

89. Chớ quyệt ngữ mà khinh kẻ dại
Ðừng gian mưu hãm hại người hiền.
Anh em bằng hữu kết nguyền,
Một lòng tin cậy, phải kiêng phải vì.
93. Chẳng thấy khó mà khi mà thị,
Gặp người giàu mà vị mà nâng.
Dầu khi gặp lúc gian truân,
Cũng đồng giúp ích, chớ đừng mặt ngơ.

CHÚ THÍCH

Quyệt ngữ: Quyệt là xảo trá, ngữ là lời nói. Quyệt ngữ là lời nói xảo trá, gian dối. Gian mưu: Mưu kế gian xảo.

Hãm hại: Làm hại người bằng thủ đoạn ám muội.

Người hiền: Người có tài đức hơn người.

Bằng hữu: Bằng là bạn, hữu là bạn, Bằng hữu là bè bạn. Kết nguyền: Kết chặt mối dây thân ái bằng lời thề.

Kiêng: Nể sợ. Vì: Nể nang. Khó: Nghèo khổ.

Mà khi mà thị: Khi thị là lừa dối, khinh thường.

Vị: Nể nang. Nâng: Tâng bốc, nịnh hót.

Hai câu 93-94: Nói về thói đời ham chuộng bạc tiền vật chất: Hễ thấy ai nghèo khổ thì khinh rẻ, thấy ai giàu có thì theo nịnh bợ. Ðừng làm như thế, bởi vì giá trị con người không phải do tiền bạc hay nghèo giàu, mà là do phẩm chất đạo đức và tài năng chơn thực.

Gian truân: Gian là khó khăn vất vả, truân là cực khổ. Gian truân là vất vả cực khổ.

Mặt ngơ: Ngó lơ làm như không hay biết, vì sợ hao tốn tiền bạc hay công sức giúp đỡ.

 

97. Làm người phải kỉnh thờ Thần Thánh,
Giữ lời nguyền, tâm tánh tưởng tin.
Hễ là niệm Phật tụng kinh,
Rèn lòng sửa nết, khá in như nguyền.
101. Chừa thói xấu đảo điên trong dạ,
Muôn việc chi chẳng khá sai lời.
Dối người nào khác dối Trời,
Trời đâu dám dối, ra đời ngỗ ngang.

CHÚ THÍCH

Lời nguyền: Lời thề. Tưởng tin: Tin tưởng.

Niệm Phật: Miệng thì đọc nho nhỏ vừa đủ nghe danh hiệu của chư Phật, còn tâm thì tưởng nghĩ tới chư Phật.

Khá in như nguyền: Phải làm cho đúng y như lời thề.

Ðảo điên: Thay đổi lung tung, tráo trở bất thường.

Câu 103: Dối người nào khác dối Trời. Sách Nho có câu: Khi nhơn tức khi tâm, nghĩa là: Lừa dối người tức là lừa dối cái Tâm của mình, mà Tâm là điểm Linh quang do Trời ban cho mỗi người, nên lừa dối người tức là lừa dối Trời. Mà lừa dối Trời có đặng chăng?

Ngỗ ngang: Ngỗ là ngạo ngược, ngang là bướng bỉnh. Ngỗ ngang đồng nghĩa với Ngỗ nghịch, nghĩa là bướng bỉnh, bất chấp lời khuyên dạy của bề trên.

KHẢO DỊ:

- Kinh NQ, Kinh Lễ, Kinh TÐ-TÐ 1936, 1968, 1974, 1975:

  • ra đời ngỗ ngang.

- KSH. MLÐ:

  • há đời ngỗ ngang.

 

105. Chớ lầm tưởng trong hang vắng tiếng,
Mà dể duôi sanh biến lăng loàn.
Con người có trí khôn ngoan,
Tánh linh hơn vật, biết đàng lễ nghi.
109. Phải cho biết kỉnh vì trên trước,
Ðừng buông lời lấn lướt hồ đồ.
Thuận cùng chú bác cậu cô,
Bà con chòm xóm, ra vô khiêm nhường.

CHÚ THÍCH

Trong hang vắng tiếng: Ý nói nơi kín đáo vắng vẻ, không ai dòm ngó. Dể duôi: Khi dể, xem thường.

Sanh biến: Gây ra điều bất thường không tốt đẹp.

Lăng loàn: Hỗn xược, không tùng theo khuôn phép.

Tánh linh hơn vật: Con người có tánh linh hơn vạn vật là vì con người có đủ Tam hồn: Sanh hồn, Giác hồn, Linh hồn. Thảo mộc chỉ có Sanh hồn, tiến lên Thú cầm thì có thêm một phần hồn nữa là Giác hồn, Thú cầm tiến hóa lên phẩm Nhơn loại thì có thêm một phần hồn nữa là Linh hồn. Linh hồn là điểm Linh quang của Ðức Chí Tôn ban cho, nhờ đó con người linh hơn vạn vật và có thể tu hành thành Tiên, Phật.

Lễ nghi: Lễ là cách bày tỏ ra ngoài lòng kính trọng, Nghi là hình thức tốt đẹp để tượng trưng cái Lễ. Lễ nghi là cách sắp đặt bên ngoài để bày tỏ lòng kính trọng.

Kỉnh vì trên trước: Kính trọng, nể nang người có địa vị cao hay tuổi tác lớn hơn mình. Buông lời: Nói ra mà không suy nghĩ cẩn thận. Bà con chòm xóm: Những người quen thân ở gần gũi trong xóm của mình.

 

113. Thấy già yếu hẹp đường nhượng tránh,
Ðừng chỗ đông buông tánh quá vui.
Cợt người ra dạ dể duôi,
Sanh điều xích mích, đâu nguôi dạ hờn.
117. Khi tế tự chớ lờn chớ dể,
Việc quan hôn thủ lễ nghiêm trang.
Gìn lòng chẳng khá lăng loàn,
Lễ nghi vẹn giữ vững vàng chớ quên.

CHÚ THÍCH

Buông tánh: Buông là thả lỏng ra, không kềm giữ chặt chẽ. Buông tánh là để cho cái Tánh buông lung, không kềm giữ nó chặt chẽ thì dễ sanh ra điều sái quấy. Cợt: Trêu ghẹo.

Xích mích: Va chạm lặt vặt sanh ra phiền lòng.

Ðâu nguôi dạ hờn: Không làm giảm bớt lòng hờn giận.

Tế tự: Tế là dâng phẩm vật lên cúng với thể thức long trọng, Tự là thờ cúng.Tế tự là chỉ chung việc tế lễ và thờ cúng.

Chớ lờn chớ dể: Không được vô lễ, không được khinh thường.

Quan hôn: Quan là cái mũ. Lễ Gia Quan là lễ đội mũ cho con trai khi đến tuổi trưởng thành, đúng 20 tuổi. Lễ nầy được thực hiện trong các gia đình Nho giáo thuở xưa, nay đã bãi bỏ. Hôn là việc cưới vợ gả chồng. Quan hôn là chỉ chung việc Quan Hôn Tang Tế. Thủ lễ: Giữ gìn phép tắc cư xử.

KHẢO DỊ:

- KSH. MLÐ, Kinh NQ, Kinh Lễ, Kinh TÐ-TÐ 1936:

  • Sanh điều chích mích.

- Kinh TÐ-TÐ 1968, 1974, 1975:

  • Sanh điều xích mích.

 

Xem tiếp giải nghĩa

Câu 121. Giàu sang ấy Ơn Trên giúp sức,
... ... ...

TKPÐ, ÐÐTKPÐ, CKVT,... xin xem "Những chữ viết tắt"

[ Hình Bìa ]

Last changed: 27-06-2003