CHI PHÁI CAO ĐÀI

Chương II:

Tiểu Sử các vị lãnh đạo Chi phái Cao-Đài
(Tách rời Tây Ninh hoặc lập Chi phái )

 
  1. Thái Chưởng Pháp: Hoà Thượng Như Nhãn
  2. Ngài Ngô văn Chiêu lập Chiếu Minh
  3. Ông Vương Quan Kỳ: lập phái Cầu Kho
  4. Hoà Thượng Thiện Minh bị Đức Lý cách chức
  5. Ông Phối-Sư Thái Ca Thanh: lập Minh Chơn lý
  6. Giáo Hữu Ngọc Chính Thanh: Phái Tiên Thiên
  7. Phái Minh Chơn Đạo: Chưởng Pháp Trần Đạo Quang
  8. Phái Bến Tre: Hai vị Quyền Đầu-Sư: Tương và Trang

 

01- Thái Chưởng Pháp: Hòa Thượng Như Nhãn (1864-1939) bỏ Đạo.

 
   

Hòa Thượng Như Nhãn, thế danh là Nguyễn Văn Tường, sanh năm 1864, con của ông Nguyễn Văn Bầu và bà Ðoàn Diệu Hoa, quê quán ở Ðức Hòa (Long An), đi tu từ năm 17 tuổi, qui y với Hòa Thượng Thích Trí Lượng (Minh Ðạt) trụ trì ở chùa Thiền Lâm Cổ Tự (xóm Chùa, tỉnh Tây Ninh), thọ Pháp danh là Thích Từ Phong.

Nguyên vào năm Mậu-Tý (1888) tại vùng Phú Lâm Chợ-Lớn (đường Bà Kế, khu vực Chợ Gạo, nay là Bến Phú Lâm, Quận 6) bà Hồ Thị Lộc có xây một ngôi chùa lớn, đặt tên là Chùa Giác Hải, bà giao cho ông Thủ Tọa Nguyễn Minh Sự coi sóc. Ông Sự mất năm 1908.

Sư Thích Từ Phong về đây kế nghiệp, trụ trì Chùa Giác Hải. Năm 1912, Ngài Thích Từ Phong giữ chức Yết Ma và năm 1924 Ngài được phong chức Hòa Thượng, nên các Phật-tử tại vùng nầy thường gọi Ngài là Hòa-Thượng Giác-Hải.

Trong lúc trụ trì ở chùa Giác-Hải, Hòa-Thượng Giác Hải có quyên góp tiền bạc trong bổn đạo để mua đất và lập một cảnh chùa tại vùng Gò Kén, Tây Ninh, lấy tên là Từ Lâm Tự (sau đổi lại là Thiền Lâm Tự). Chùa được xây dựng trên một khu đất gò rộng 4 mẫu, trên Quốc lộ 22 Sài-Gòn Tây-Ninh, từ lộ vô khoảng 200 mét và cách thị xã Tây-Ninh chừng 5 cây số, phía trước cất chùa, phía sau làm nghĩa địa.

Trong số bổn đạo đóng góp tiền mua đất và xây chùa Từ Lâm ở Gò Kén, ông bà Huyện Nguyễn Ngọc Thơ và Bà Lâm Ngọc Thanh cũng có đóng góp tiền bạc vào nhiều hơn hết. Chùa mới vừa xây dựng xong phần chánh, chưa trang trí, chưa làm đường lớn từ quốc lộ vào chùa, không có Đông lang, Tây lang. Lúc đó là vào năm 1925.

Vào giữa năm Bính-Dần (1926) ông bà Nguyễn Ngọc Thơ được Ðức Chí-Tôn thâu làm Môn đệ, nhập vào Ðạo Cao Ðài. Hai ông bà cũng muốn Ðức Chí Tôn thâu phục Hòa-Thượng Như-Nhãn, nên ông bà thuyết phục Hòa Thượng đến dự một đàn cơ cầu Ðức Chí Tôn tại nhà Ngài Nguyễn Ngọc Thơ ở Tân-Ðịnh. Ðức Chí Tôn giáng cơ thâu nhận Hòa Thượng Như Nhãn.

Giữa tháng 7 năm Bính-Dần (1926) Hòa Thượng Như Nhãn được Ðức Chí Tôn thâu làm Môn đệ.

Sau đó, do sự yêu cầu của ông bà Thơ, Hòa Thượng Như Nhãn hiến chùa Từ Lâm (Gò Kén) cho Ðạo Cao Ðài dùng làm Thánh Thất tổ chức Lễ Khai Ðạo.

(Có lẽ trong thời gian xây dựng chùa Từ Lâm ở Gò Kén, Hòa thượng Giác Hải lấy hiệu là Như Nhãn).

Ngày 29-7-Bính Dần (dl 5-9-1926), Hòa Thượng Như Nhãn được Ðức Chí-Tôn giáng cơ ân phong là: Quảng Pháp Thiền Sư Thích Ðạo Chuyển Luật Lịnh Diêu Ðạo Sĩ: Chưởng Pháp phái Thái.

Ngày 15-10-Bính Dần (dl 19-11-1926) Ðại Lễ Khai Ðạo Cao Ðài được tổ chức long trọng tại Thánh Thất Từ Lâm Tự (Gò Kén, Tây Ninh) có hằng vạn tín đồ Cao Ðài dự lễ, số quan khách ngoài đời cũng đến dự rất đông.

Ðêm 14 rạng 15 tháng 10 âm-lịch, tổ chức đàn cơ trong Thánh Thất, Ngài Ðầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt trấn pháp sót một cửa, nên thừa dịp nầy, quỉ nhập vào đàn, một con quỉ nhập vào ông Lê Thế Vĩnh xưng là Tề Thiên Ðại Thánh, một con quỉ khác nhập vào cô Vương Thanh Chi xưng là Lê Sơn Thánh Mẫu, nói năng lộn xộn rồi nắm tay nhau nhảy múa, khiến cho nhiều người mới vào Ðạo Cao Ðài bị mất đức tin.

Hòa Thượng Như Nhãn cũng bị mất đức tin. Mặc khác, số đệ tử của Hòa Thượng Như Nhãn yêu cầu Ngài bỏ Ðạo Cao Ðài và đòi chùa lại. Hòa Thượng Như Nhãn nghe theo và quyết định đòi chùa Từ Lâm, không hiến cho Ðạo Cao Ðài nữa, hẹn trong 3 tháng Ðạo Cao Ðài phải dời

Ngày 19-11-Bính Dần, Hòa Thượng Như Nhãn bị thiêng liêng quở phạt làm cho đau nặng.

Ngày 01-12-Bính Dần, Ðức Chí Tôn giáng cơ quở phái Thái và Hòa Thượng Như Nhãn, tỏ ý muốn phế bỏ phái Thái. Ðức Phổ Hiền Bồ Tát cầu xin Đức Chí Tôn tha thứ cho phái Thái và đừng bỏ phái Thái (phái Phật).

Ðức Lý Giáo-Tông giáng cơ trục xuất Hòa Thượng Như Nhãn ra khỏi Ðạo Cao Ðài.Tháng 2 năm Ðinh Mão, Ðức Lý Giáo-Tông quyết định trả chùa Từ Lâm cho Hòa Thượng Như Nhãn và chỉ dẫn Hội Thánh tìm mua được 96 mẫu đất tại làng Long Thành (Tây Ninh) để dời các cơ sở của Ðạo về nơi đây, lập thành Tòa Thánh Trung ương của Ðạo Cao Ðài.

Hòa Thượng Như Nhãn qui liễu vào ngày 5-12-Mậu Dần (dl 24-1-1939) hưởng thọ 75 tuổi. Tháp của Ngài được xây ngay trước Từ Lâm Tự (nay là Thiền Lâm Tự) Gò Kén (Tây ninh).

Trên bia mộ có đề chữ Hán, dịch ra như sau đây:

Ngài là Ðại Lão Hòa Thượng Thiền Tông Lâm Tế đời thứ 39.

Ngày sanh: 15-3-Giáp Tý (1864).

Ngày qui: 05-12-Mậu Dần (1939), thọ 75 tuổi.

Tháp của Hòa Thượng Như Nhãn xây ở chính giữa, hai tháp hai bên là của hai vị: Hoà Thượng Minh Ðạt, thầy của Ngài Như Nhãn và Hòa Thượng Hồng Tằng, học trò của Ngài Như Nhãn.

a/- Như Nhãn đòi Chùa nên toàn Đạo phải tìm mua đất làm Đền-Thánh:

Sự diễn tiến:

* Sau khi làm Lễ Khai Đạo tại chùa Từ Lâm (Gò Kén) ngày 15-10 Bính-Dần (dl 19-11-1926) chủ chùa Từ Lâm là Hòa-Thượng Như-Nhãn (Giác-Hải) đòi chùa lại, không hiến cho Hội-Thánh Cao-Đài nữa, kỳ hẹn trong 3 tháng buộc phải dời đi.

* Ngày 19-1 Đinh-Mão (dl 20-2-1927) tại Từ Lâm Tự, Đức Lý Giáo-Tông giáng cơ quyết định trả chùa lại cho Hòa-Thượng Như-Nhãn, rồi dạy Hội-Thánh đi chọn mua đất cất Tòa-Thánh, phải chọn đất tại Tây-Ninh nầy mà thôi. Đức Lý xin mua đất nơi khác nhưng Đức Chí-Tôn không chịu, bởi vì Tây-Ninh là Thánh-địa, nơi đây phong thổ thuận tiện cho người ngoại-quốc đến học Đạo.

* Ngày 20-1 Đinh-Mão (dl 21-2-1927) cũng tại Từ Lâm Tự, Đức Chí-Tôn giáng cơ xác định:

“Các con phải chung hiệp nhau mà lo cho hoàn toàn Tòa Thánh, chi chi cũng ở tại Tây Ninh nầy mà thôi”.

Trước khi tìm mua đất thì Đạo Cao Đài làm Lễ Khai Đạo ngày 15-10 Bính-Dần (dl 19-11-1926) tại đây làm Thánh-Thất tạm, đặt tại Chùa Từ-Lâm (tục gọi là Chùa Gò Kén, Tây-Ninh).

Nguyên ngôi chùa nầy do Hòa-Thượng Như-Nhãn (cũng gọi là Hòa-Thượng Giác-Hải) góp tiền bổn đạo mua đất và xây dựng nên. Kịp khi Đức Chí-Tôn giáng cơ mở Đạo, Đức Chí-Tôn dùng Huyền-diệu Cơ Bút độ được Hòa Thượng Như-Nhãn theo Đạo và trở thành một vị Chức sắc Đại-Thiên-phong của Đạo Cao-Đài, nên Hòa-Thượng Như Nhãn hiến chùa Từ-Lâm cho Hội-Thánh Cao-Đài làm Thánh-Thất, tổ chức Lễ Khai Đạo. Nhưng sau ngày Lễ Khai Đạo, Hòa-Thượng Như-Nhãn một phần bị mất Đức tin, một phần bị nhà cầm quyền Pháp lúc bấy giờ xúi giục và hăm dọa, Hòa-Thượng Như-Nhãn không theo Đạo Cao Đài nữa và đòi chùa lại, không hiến cho Hội Thánh.

Hội-Thánh Cao-Đài phải trả chùa lại cho Ông Như Nhãn và hứa trong 3 tháng sẽ tìm đất mới để dọn đi.

“Kể từ Rằm tháng 10 năm Bính-Dần (1926) tới Rằm tháng Giêng Đinh-Mão (1927) là đúng kỳ hứa trả chùa Từ Lâm (Gò Kén) là 3 tháng, nhưng tới tháng 2 năm Đinh-Mão, đã quá kỳ hạn 1 tháng mà Hội Thánh chưa trả chùa lại được, vì chưa kiếm được đất để mua, còn Ông Hòa Thượng Giác Hải thì cứ đòi chùa lại hoài.”

(Đạo-Sử I /51)

Vì sự đòi Chùa ấy nên Đức Lý Giáo-Tông giáng dạy tại chùa Gò-Kén ngày 19-1 Đinh-Mão (dl 20-2-1927):

“Ngày nay Lão nhứt định chùa nầy trả lại. Xong trước khi trả, phải cất Thánh Thất cho xong y như lời dạy. Chư Đạo hữu phải hiệp sức nhau đặng lập thành Tòa Thánh, chi chi cũng tại Tây Ninh nầy mà thôi, vì là Thánh địa. Vả lại phong thổ thuận cho nhiều nước ngoại quốc đến đây học Đạo. Lão muốn nơi khác mà Đức Chí Tôn không chịu.

Thượng Trung Nhựt ! Phải làm thế nào chừa đất dư ra ít nữa là 50 mẫu là trọn cả bản đồ Bạch Ngọc Kinh và cho đủ Thánh địa ấy. Hiền hữu đi chọn đất về cho Lão hay, cầu khẩn Chí Tôn nghe !”

(Trích Đạo-Sử. II/ 222)

Hôm sau, cũng tại chùa Gò Kén, ngày 20-1 Đinh Mão (Dl 21-2-1927) Đức Chí-Tôn giáng dạy như sau :

Các con nghe! Nơi nào Thầy ngự thì nơi ấy là Thánh địa. Thầy đã ban sắc cho Thần Hoàng Long Thành thăng lên chức Văn Xương vào trấn nhậm làng Hiệp Ninh dạy dỗ dân vô đạo, Thầy ban quyền thưởng phạt, đặng răn làng ấy cho đến ngày chúng nó biết ăn năn cải quá. Vậy thì Làng Long Thành, các con khá an lòng.

Còn Tòa Thánh thì muốn để cho có nhơn lực hiệp cùng Thiên ý là hạnh của Thầy, các con nên xem gương mà bắt chước. Từ Thầy đến lập Đạo cho đến giờ, Thầy chưa hề một mình chuyên quyền bao giờ. Các con lựa chọn nơi nào mà Hội Thánh vừa lòng thì là đẹp lòng Thầy.

Các con phải chung hiệp nhau mà lo cho hoàn toàn Tòa Thánh, chi chi cũng tại Tây Ninh nầy mà thôi.

Các con đã hiểu Thánh ý Thầy, phải cần kiệm mỗi sự chi về phương tiện mà thôi.

Thơ! Thầy giao cho con góp tư bổn trong một tháng cho rồi, dặn các em con rằng: “Danh thể Đạo nơi Tòa Thánh, nghe à !”. Sau Thái Bạch sẽ dạy con kiểu vở.

Cẩm Giang thì các con phải chịu khổ về phần ăn uống, Bén Kéo thì địa thế hẹp hòi, chớ chi các con khôn ngoan lấy cớ rằng: vì ích lợi lương sanh, vì đạo đức mà ký Chánh phủ cho các con mé rừng Cấm bên kia đường thì đẹp lắm. Các con liệu thử!

Thơ! Suối Vàng thì đặng, phương chuyên chở không thuận tiện, song phong thổ tốt đẹp. Con cũng yêu cầu Hội Thánh xét nét, nghe à ! Thầy ban ơn cho các con."

(ĐS. II. 223) & [TNHT. I. 98]

Tiếp theo, cũng tại chùa Gò Kén, ngày 21-1 Đinh Mão (Dl 22-2-1927) Đức Lý Giáo-Tông giáng dạy tìm đất Thánh Địa:

“Thượng Trung Nhựt! Thái Thơ Thanh! Cười! Nhị vị Hiền hữu muốn cho Đạo phải mang tiếng rằng: Trốn lánh hay sao mà tính dời Tòa-Thánh xa dữ vậy hử? Tỷ như Lão muốn lập Tòa Thánh gần bên thành binh, chư Hiền hữu tưởng sao?

- Trung bạch: Có hai làng cúng đất.

- Mua thì đặng, khó gì! Một nơi chí Thánh trước mắt mà chư Hiền hữu chẳng biết xem, ấy cũng còn hai phần phàm.

Thái Thơ Thanh! Lão cậy Hiền hữu một phen nữa, mai nầy đi lên đường trên gọi là đường dây thép, nhắm địa thế dài theo cho tới ngã ba Ao Hồ, coi Hiền hữu thấy đặng chăng cho biết.

Lão đã nói rằng: Mỗi sự chi đều bày trước mắt nhơn sanh hết. Chư Hiền hữu đừng sợ ai hết, hễ sợ thì chối quyền Thiêng liêng của Chí Tôn thì còn gì Đạo! nghe à !" (Đạo-Sử. II./ 224)

b/- Đức Hộ-Pháp nói về việc mượn chùa Từ Lâm của Hoà Thượng Giác Hải

“Đức Chí Tôn nói “chi chi cũng tại Tòa Thánh Tây Ninh nầy mà thôi”. Ngó lại thấy hiện tượng của Đạo nghèo đến nước không phương thế làm chùa để mượn Từ Lâm Tự của nhà Thiền tức của Hòa Thượng Giác Hải làm mới nửa chừng, họ muốn cho mượn đặng lợi dụng mình làm cho xong. Xuất của ra làm, chừng mở Đạo vừa xong quyền Đời quyền Đạo xúm lại đè nén muốn hạ nhục làm cho rẻ giá trị, đòi chùa lại, đuổi đi.

Thật vậy, họ đuổi đi, phải đi cấp thời, mua được đất Long Thành ngó lại toàn rừng già thú dữ đầy cọp beo đủ thứ. Như thế ấy mà nói chi chi cũng tại Tòa Thánh Tây Ninh nầy mà thôi. Nếu buổi ấy ai đức tin không vững chắc còn có nước trốn mà đi. Một phần đã từ bỏ Đạo vì lẽ ấy, còn những người có đức tin một chút nói rằng ở coi, coi họ làm sao tương lai sẽ như thế nào? Nếu nên thì mình theo, bằng không nên thì đả đảo rồi bỏ đi. Như vậy mà vẫn còn một đám người nữa vì thương chúng sanh kính trọng con cái Đức Chí Tôn đem đức tin để trọn vẹn nơi Ngài lo lắng cho tương lai của nhơn sanh, tự hỏi: nếu lời hứa của Đức Chí Tôn không thành tựu thì Đạo Cao Đài thành sao đặng, vì cớ, những kẻ ấy đem tất cả nhiệt huyết của mình đặng cứu dân, lời hứa của Đức Chí Tôn đem cả đức tin thực hiện cho thành tựu mong mỏi cứu tình thế, thấy khổ nhơn loại mà hy sinh tạo nghiệp. Bần Đạo ngó lại hai mươi mấy năm rồi biết bao nhiêu sanh mạng về gởi rừng nầy nơi nước độc bệnh chướng, nhìn lại Thánh Địa biết bao nhiêu mồ mã, biết bao xương máu.”

02- Ông Ngô Văn Chiêu (1878-1932)

 
(xxx)  

(Bỏ Toà Thánh tách ra lập Chiếu Minh vô vi)

A-

1. Bên lề cuộc sống của Ngài Ngô văn Chiêu:

Ngày 29-03-Bính Dần (Thứ hai: 10-5-1926) Đức Thượng Đế giáng Cơ dạy Đức Hộ-Pháp:

- Tắc! lập tức đi ngay đến nhà Trung có việc cần kíp!

Dù đêm đã khuya, nhưng lịnh của Đức Chí-Tôn, Ngài phải thi hành, đến nhà Đức Quyền Giáo-Tông Lê-văn Trung ở số 39 đường Quai Testard Chợ-lớn. Đến nơi, vài phút sau thì cụ Ngô-văn-Chiêu cũng đến. Xuống xe, cụ tỏ vẻ đau đớn dường như không tự đi đứng được, hai Ngài Trung và Tắc phải dìu cụ vào nhà. Cụ Chiêu tiết lộ:

- Năm 1919 nơi đảo Phú Quốc, Đức Chí-Tôn thâu nhận cụ làm Đệ-tử và dạy đạo cho. Cụ Ngô đã ước hứa với Thầy là “sẽ truyền Đạo của Thầy để cứu đời”. Nay vì phong trào cầu Cơ của quí vị tiền khai Đại-Đạo đã thu hút cả hàng thượng lưu trí thức cùng cả giới nông, công, thương, nghèo hèn, khiến cho chánh quyền thực dân Pháp lo ngại nên gây áp lực buộc cụ Chiêu phải lấy tư cách người Anh Cả của nhóm đệ tử đầu tiên phải ra lịnh cho tất cả: ngưng việc cầu cơ ! Chấm dứt việc chúng sinh cầu Đạo Nếu không tuân lịnh chúng sẽ cho Ngài nghỉ việc và truy tố ra Toà về tội “Không chấp hành lời cam kết” phải bồi thường “Ngân khoản đào tạo”. Những án phạt vừa kể, Cụ Chiêu còn có thể chịu đựng được, nhưng chúng còn doạ là cắt học bổng của con cháu cụ đang du học bên Pháp và cấm cả việc chuyển ngân của gia đình cho con cháu nữa. Do vậy mà lời phát nguyện khi xưa của cụ với ông Thầy Trời khó mà thực hiện được.

Cụ Ngô văn Chiêu mới sở cậy Ngài Lê-văn-Trung ra gánh vác việc Đạo trong tương lai. Sau cùng Cụ Chiêu quyết định làm theo sự đòi hỏi của người Pháp. Cụ Chiêu đã chủ trương câu “Ngô thân bất độ hà thân độ” (thân tôi chưa độ được thì làm sao độ người).

Bấy giờ Cụ Chiêu tách ra khỏi nhóm Đệ-tử tiền khai Đại-Đạo ở Toà-Thánh Tây-ninh và tự lập ra Chi-Phái Chiếu Minh và tu vô vi.

Phái nầy do Ngài Ngô Văn Chiêu lập ra vào đầu năm 1927, sau khi Ngài đã bị truất ngôi Giáo-Tông, lúc đầu gọi là Cơ Tuyển Ðộ Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi ở tại Châu Thành Cần Thơ. Sau khi Ngài Chiêu đăng Tiên thì ông Tư Huỳnh lãnh đạo.

Phái Chiếu Minh chuyên về Nội giáo Vô Vi, Tâm pháp bí truyền luyện đạo, nên lựa chọn và thâu nhận rất ít tín đồ, hoạt động hạn hẹp ở ba nơi: Cần Thơ (Tổ đình), Phú Quốc và Sài Gòn. Hiện nay Phái Chiếu Minh lại phân ra: Chiếu Minh Long Châu và Chiếu Minh Ðàn.

2- Tiểu sử Ngài Ngô Văn Chiêu:

Ngài Ngô Văn Chiêu, sanh ngày 7 tháng Giêng năm Mậu-Dần (dl 8-2-1878) tại Bình Tây, Chợ Lớn, thân mẫu là bà Lâm-Thị-Quí và thân phụ là ông Ngô-Văn-Xuân thuộc dòng dõi quan Thị Lang của triều đình Huế.

Khi Ngài Chiêu được 6 tuổi, ông bà thân của Ngài tìm được việc làm ở Hà-Nội nên đem Ngài gởi cho người em ruột là bà Ngô Thị Đây ở Mỹ Tho. Bà Đây có chồng là người Hoa, mở tiệm thuốc Bắc tại xã Điều Hòa, cạnh nhà việc, thuộc Mỹ Tho.

Ngài Chiêu ở với cô ruột và được cô cho đi học, đến năm 12 tuổi thì nhờ người quen cũ của cha bảo lãnh xin vào học nội trú tại Collège Mỹ Tho. Sau đó Ngài lên Sài Gòn học tại trường Chasseloup Laubat và đậu bằng Thành Chung năm Ngài được 21 tuổi.

Ngày 23-3-1899, Ngài Ngô Văn Chiêu được nhận vào làm Thơ ký tại Sở Tân Đáo Sài Gòn.

Ngài theo sự hướng dẫn của người cô ruột, kết hôn với bà Bùi Thị Thân, người làng Thạnh Trị, đang làm nghề buôn bán tại chợ Mỹ Tho. Ông Bà sanh được cả thảy 9 người con, cả trai lẫn gái.

Ngày 1-1-1903, Ngài Ngô Văn Chiêu được đổi về tùng sự tại Dinh Thượng Thơ (Bureau du Gouvernement de Cochinchine).

Ngày 1-5-1909, Ngài được đổi xuống làm việc tại Tòa Hành Chánh tỉnh Tân An.

Ngày 1-1-1917, Ngài đậu Tri Huyện, vẫn tiếp tục làm công chức tại Tân An. Ngài mua một căn nhà lá tại thị xã Tân An, sửa lại thành ba gian lợp ngói và đưa cả gia đình gồm vợ con về sống nơi căn nhà nầy.

Đầu năm 1920, Ngài Chiêu buồn rầu vì thân mẫu mới mất nên Ngài xin đổi đi Hà Tiên.

Ngày 1-3-1920, Ngài được đổi xuống Hà Tiên, làm việc tại Tòa Hành Chánh tỉnh Hà Tiên được 8 tháng thì Ngài được chuyển ra làm Chủ Quận Phú Quốc ngày 26-10-1920 và làm việc tại đây được 4 năm.

Ngày1-1-1924, Ngài được thăng lên ngạch Tri Phủ.

Ngày 30-7-1924, Ngài được đổi về Sài Gòn, làm việc tại Phòng Thương Mại trong Dinh Thống Đốc Nam Kỳ.

Ngài Ngô Văn Chiêu mướn nhà ở nhiều nơi, nhưng sau rốt Ngài đến ở lầu 2 nhà số 110 đường Bonard (nay là đường Lê Lợi) Sài Gòn.

Năm 1931, Ngài Ngô Văn Chiêu 54 tuổi, Ngài xin nghỉ làm công chức, lui về an dưỡng ở Cần Thơ.

Trên bước đường làm quan cho nhà cầm quyền Pháp lúc bấy giờ đang cai trị Nam Kỳ, Ngài Ngô Văn Chiêu nổi tiếng là vị quan thanh liêm, chánh trực, công bình. Đối với bạn đồng liêu, Ngài rất khiêm tốn, ôn hòa. Đối với dân chúng, Ngài rất thân dân, hết lòng giúp đỡ, nhưng không bao giờ thọ lãnh lễ vật hay tiền bạc đền ơn đáp nghĩa. Lúc làm Chủ Quận, khi gặp nghi án thì Ngài chẳng nề khó nhọc, điều tra cho ra manh mối để tránh cho người dân bị hàm oan hay bị ức hiếp.

Lúc Ngài ở Phú Quốc, Ngài đã biết Đạo rồi, nên khi gặp những vụ thưa kiện, Ngài thường khuyên giải cả đôi bên giải hòa cùng nhau, khi hai bên chẳng chịu thì Ngài làm tờ giải lên tỉnh Hà Tiên.

3- Quá trình Ngài Chiêu ngộ Đạo Cao Đài:

Việc ở Tòa Hành Chánh tỉnh Tân An thì phong trào cầu cơ thỉnh Tiên cũng đang chớm nở tại đó. Ngài rất ngưỡng mộ, nên hợp tác với các bạn thân gồm quí ông: Đoàn Văn Kim (Một Kim), Lê Kiển Thọ (Bộ Thọ), Trần Phong Sắc, Nguyễn Văn Vân, tạo thành một nhóm cầu cơ, xin những bài thuốc chữa bịnh. Trong nhóm chọn ông Trần Phong Sắc làm Pháp đàn, ông Thọ làm đồng tử, Ngài Chiêu làm độc giả, ông Vân làm điển ký (ghi chép bài cầu cơ). Nhà Ngài Chiêu có thờ Đức Quan Thánh và Quan Âm Bồ Tát, nhà ông Thọ thì thờ Bát Tiên.

Vào ngày rằm âm lịch mỗi tháng, Ngài Ngô Văn Chiêu đều tổ chức cầu cơ tại nhà của Ngài. Bài kinh cầu cơ lấy trong kinh Vạn Pháp Qui Tông, nhờ mấy đứa trẻ nhỏ, tắm rửa sạch sẽ, quần áo tươm tất, làm đồng nhi tụng kinh.

Cuối năm 1917, thân mẫu của Ngài Chiêu lâm trọng bịnh, Ngài phải xuống đàn Cái Khế ở Cần Thơ để cầu xin thuốc cho mẹ uống. Ơn Trên giáng cơ cho bài thuốc, Ngài đem về cho mẹ uống thì mẹ Ngài hết bịnh, mạnh được vài năm. Sau đó thì mẹ Ngài bị bịnh trở lại, Ngài Chiêu trở xuống đàn Cái Khế cầu xin thuốc cho mẹ nữa, Ơn Trên chỉ giáng dạy đạo lý chớ không cho thuốc. Ngài vì quá thương mẹ nên đi lên đàn cơ ở Thủ Dầu Một xin thuốc một lần nữa.

Ông Trần Hiển Vinh chủ đàn Minh-Thiện ở Thủ Dầu Một có thuật lại rằng: Bữa ấy, Ngài Ngô Văn Chiêu cùng ông Phủ Kim đến hầu đàn. Ông Kim quì ở trong, Ngài Chiêu quì ở góc ngoài. Khi Đức Quan Thánh giáng cơ, liền gọi tên Ngài Ngô Văn Chiêu và cho 4 câu thi, đại ý nói vườn thuốc của Phật Tổ đã bị trốc gốc. Qua bài thi nầy, Ngài Chiêu biết số mệnh của mẹ Ngài không qua khỏi. Đến cuối năm 1919 thì Bà từ trần.

1/. Đấng Cao Đài Tiên Ông giáng cơ xưng danh lần đầu tiên:

Đầu năm 1920, vài tháng trước khi Ngài Chiêu có lịnh đổi xuống Hà Tiên, Ngài được lịnh bề trên bảo chỉnh đốn việc cầu cơ thỉnh Tiên.

Ông Trần Phong Sắc vẫn làm Pháp đàn, hai đồng tử là: ông Nguyễn Văn Vân ngồi đồng dương và ông Lê Kiển Thọ (Bộ Thọ) ngồi đồng âm, Ngài Chiêu làm độc giả, ông Đoàn văn Kim làm điển ký.

Đồng nhi đọc bài kinh cầu cơ đến câu:

Ngũ chơn bửu khí lâm triều thế,
Giá hạc đằng vân xiển tự nguyên.

Liền có một vị Tiên Ông nhập cơ viết xưng là Cao Đài Tiên Ông, cơ gõ mạnh bảo ông Trần Phong Sắc sửa lại hai câu ấy. Ông Sắc vốn là nhà Nho sành sỏi, liền trả lời một cách ngang ngang có vẻ bất kính: “Bài thỉnh cơ nầy đã có cả trăm năm nay từ Trung quốc truyền qua, ai dám cho là sái, nay Tiên Ông bảo sửa, vậy trật hay sao?”

Tiên Ông quơ cần cơ đập vào đầu ông Sắc vì tội vô lễ, ông Sắc sụt lẹ xuống né khỏi, kế Cao Đài Tiên Ông kêu Ngài Chiêu bảo sửa. Ngài Chiêu liền sửa và bạch rằng:

“Bửu chơn Ngũ khí lâm triều thế”.

Tiên Ông khen Ngài Chiêu sửa trúng.

Kể từ đó, ông Sắc không làm Pháp đàn nữa. Cả nhóm không biết Cao Đài Tiên Ông là ai, nhưng Ngài Chiêu thì đoán rằng, Đấng ấy là Thượng Đế, nên mới dám sửa kinh đời xưa.

2/. Thời gian tùng sự tại Hà Tiên:

Vừa làm tuần bá nhựt (100 ngày) cho thân mẫu xong thì Ngài Ngô Văn Chiêu được giấy đổi đi Hà Tiên.

Lúc đó, ở Hà Tiên cũng có quí ông: Đốc phủ Sự, Lâm Tấn Đức, Nguyễn Thành Diêu, ông Phán Ngàn, lập thành nhóm cầu cơ thỉnh Tiên, nhưng năm lần bảy lượt mới có Tiên giáng. Khi Ngài Ngô Văn Chiêu xuống tới đó, Ngài liền gia nhập nhóm cầu cơ nầy, thì lạ thay, khi Ngài Chiêu nguyện vái, đọc bài cầu cơ, thì có Tiên giáng liền.

Những buổi cầu cơ lúc đó tổ chức trên núi Thạch Động.

Một vị Tiên Cô xưng là Ngô Kim Liên giáng cho Ngài hai bài thi tứ tuyệt có ý khuyên Ngài tu hành:

Văng vẳng nhạn kêu bạn giữa thu,
Rằng Trời cùng Đất vẫn xa mù.
Non Tây ngảnh lại đường gai góc,
Gắng chí cho thành bực trượng phu.

Ngần trăng tỏ rõ giữa trời thu,
Cái cảnh Tây phương vẫn mịt mù.
Mắt tục nào ai trông thấy đấy,
Lắm công trình mới đúng công phu.

3/. Lúc làm Chủ Quận Phú Quốc:

Trong thời gian làm Chủ Quận Phú Quốc, Ngài Ngô Văn Chiêu thường lên núi Dương Đông cầu cơ thỉnh Tiên. Trước nhứt Ngài cầu ở Chùa Quan Âm. Ngài thường đi với cô Ba Lan là em bạn dì và mấy người hầu đàn như: Hương Hào Khâu, ông giáo Mẫn, ông Hương Đa, Biện Tý, Ba Đồng, bà năm Vàng, bà phủ Phẩm, Hội Đồng Phanh, với năm ba đứa nhỏ sạch sẽ theo làm đồng tử. Độc giả thì có: Hai Huỳnh, Tư Xuân, Tư Ngưng, Ba Nguơn, Năm Nhơn, Mười Đức, ...

Ngài Chiêu đã cầu Tiên nhiều lần, nhưng có một vị Tiên Ông giáng cơ chẳng chịu xưng tên, biểu Ngài Chiêu làm đệ tử thì Tiên Ông sẽ dạy Đạo cho và bảo đừng tụng kinh Minh Thánh nữa.

Bữa kia, Tiên Ông giáng bảo Ngài lo tu và ăn chay thêm cho đủ 10 ngày trong một tháng. Ngài nghĩ bụng: Mình đang làm quan, nay người nầy mời, mai người kia thỉnh, nếu chịu ăn chay 10 ngày rồi, sau rủi quên ăn mặn thì có tội với Trời Phật. Nhưng nếu theo lời dạy của Tiên Ông mà có kết quả thì cũng ráng ăn. Nếu ăn chay 10 ngày mà chết cũng bị luân hồi thì thà ăn chay 2 ngày trong tháng còn hơn, miễn là mình lo tu nhơn tích đức, chẳng làm gì trái lương tâm thì thôi. Ngài nghĩ trong trí như vậy, định khi gặp Tiên Ông giáng cơ thì bạch rõ.

a) Đàn cơ mùng 1-1-Tân Dậu (dl 8-2-1921) tại Chùa Quan Âm, Phú Quốc.

Tiên Ông giáng cơ. Ngài Chiêu chưa kịp bạch hỏi Tiên Ông điều chi thì cơ viết:

"Chiêu! tam niên trường trai.”

Tiên Ông bảo như thế làm cho Ngài rất bối rối, bởi vì Ngài chưa chịu ăn chay 10 ngày, mà nay Tiên Ông bảo ăn chay trường ba năm thì lâu quá, chẳng biết có chịu nỗi không. Ngài Chiêu liền bạch với Tiên Ông, xin Tiên Ông bảo lãnh, nếu đệ tử vâng theo lời dạy thì phải có ấn chứng chi mới được.

Tiên Ông bảo cứ giữ y lời dạy thì đệ tử sau sẽ hiểu rõ. Ngài Ngô Văn Chiêu bắt đầu ăn trường chay và học đạo kể từ ngày đó: Mùng 1 Tết năm Tân Dậu (1921).

b) Thờ Thiên Nhãn:

Một bữa kia, Tiên Ông dạy Ngài Ngô Văn Chiêu phải tạo ra một dấu hiệu chi để thờ. Ngài bèn chọn chữ Thập.

Tiên Ông nói: Chữ Thập cũng được, song đó là dấu hiệu riêng của một nền đạo đã có rồi. Phải suy nghĩ tìm cho ra, có Tiên Ông giúp sức.

Ngài xin hoãn lại một tuần lễ để suy nghĩ. Mãn tuần rồi mà Ngài vẫn chưa tìm ra.

Một buổi sáng lối 8 giờ, Ngài đang ngồi trên võng sau dinh quận, bỗng Ngài thấy trước mặt, cách chừng hai thước, hiện ra một con Mắt thiệt lớn, rất tinh thần, chói ngời như mặt trời. Ngài lấy làm sợ hãi hết sức, lấy hai tay đậy mắt lại không dám nhìn, đợi chừng nửa phút, Ngài mở mắt ra thì vẫn thấy con Mắt ấy mà lại càng chói sáng hơn nữa. Ngài bèn chấp tay vái rằng:

- Bạch Tiên Ông, đệ tử biết rõ huyền diệu của Tiên Ông rồi, đệ tử xin Tiên Ông đừng làm vậy, đệ tử sợ lắm. Như phải Tiên Ông bảo thờ Thiên Nhãn thì xin cho biến mất tức thì.

Vái xong thì con Mắt lu dần và biến mất.

Thấy như vậy rồi, nhưng Ngài Ngô Văn Chiêu vẫn chưa thiệt tin, nên chưa vẽ hình Thiên Nhãn để thờ.

Cách vài ngày sau, Ngài Chiêu cũng thấy Thiên Nhãn hiện ra y như trước. Ngài vái sẽ tạo Thiên Nhãn mà thờ thì con Mắt tự nhiên biến mất.

Sau khi thấy Thiên Nhãn hai lần rồi, Ngài cầu cơ xin Tiên Ông dạy cách thờ phượng. Tiên Ông dạy vẽ con Mắt như đã thấy để thờ và Tiên Ông xưng là: “CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT ”.

Tiên Ông dạy Ngài Chiêu gọi Tiên Ông bằng Thầy và kể từ ngày đó, Ngài Ngô Văn Chiêu chánh thức làm đệ tử đầu tiên của Đấng Thượng Đế.

Ngài nguyện với Đấng Cao Đài: “Nếu độ cho tôi thành Đạo thì tôi sẽ độ lại chúng sanh tùy theo phước đức của mỗi người.”

c) Cảnh Bồng Lai:

Lúc ấy Ngài Ngô Văn Chiêu đã tu theo Cao Đài Tiên Ông đã được 3 năm. Một bữa kia, Đấng Cao Đài Tiên Ông giáng cơ khen Ngài tu kỹ và ban cho đặc ân muốn chi thì Thầy ban cho.

Ngài Ngô Văn Chiêu bạch rằng:

- Bạch Thầy, nghe nói cảnh Bồng Lai xinh đẹp vô cùng, Thầy có thể cho đệ tử thấy cảnh ấy không?

Cơ gõ mạnh một cái chớ không viết câu trả lời.

Cách ít lâu sau, vào một buổi chiều cuối tháng Giêng năm Giáp Tý (1924) Ngài Chiêu ra hứng mát ở mé biển, Ngài trèo lên một hòn đá lớn ngoài Dinh Cậu, ngồi ngó ra biển, sóng dợn ba đào. Bỗng Ngài thấy giữa chỗ trời nước giáp nhau, lộ ra một cảnh thật là xinh đẹp, cảnh nầy vừa khuất thì hiện ra cảnh khác cũng xinh đẹp không kém. Sau cùng Ngài thấy một cảnh rất đặc biệt, trên có Thiên Nhãn, sổ ngay xuống một hàng có Nhựt, Nguyệt, Tinh đẹp đẽ vô cùng. Ngài ngồi xem mê mẩn, được chừng 15 phút thì cảnh ấy mờ dần rồi biến mất.

Sau đó, Ngài Chiêu cầu cơ thì Đức Cao Đài Tiên Ông cho biết, đó là cảnh Bồng Lai theo như lời Ngài ước nguyện muốn thấy để nung chí tu hành.

Khi Ngài Chiêu sắp đổi về Sài Gòn, Đức Cao Đài Tiên Ông giáng cơ ban cho Ngài bài thi sau đây:

Kín ngoài rồi lại kín trong,
Đường xa phong cẩn thưởng lòng để vui.
Công đầu chịu cực đừng lui,
Thiên tào thăng thưởng đạo mùi ngọt ngon.

Ba năm lòng sáng như son,
Trèo non xuống biển vuông tròn công phu.
Chớ phiền mỏi mệt lòng tu,
Trăng kia mây vẹt, Đường Ngu gặp hiền.

Mựa toan vụ thấy Thanh Thiên,
Các đào rõ biết mối truyền chánh tông.
Giờ nầy Thầy điểm thâm công,
Ngày sau con sẽ cỡi rồng về nguyên.

Ngoài trong sạch tợ bạch liên,
Khá lòng gìn giữ mối giềng chớ xao.
Chiêu chiêu nguyệt thấu thanh thao,
Trên đầu cũng có Thiên Tào xét xem.

Thấm mùi con biết lân nem,
Đề hồ con uống Thầy xem ân cần.
Đạo luyện khắc kỷ phục thân,
Chiêu con khá giữ, Thầy phân cạn lời.

Thầy lại dạy rằng:

- Con đổi về Sài Gòn, đồng tử không theo con được. Vậy con phải rót một ly rượu, con uống phân nửa, còn phân nửa thì cho đồng tử uống, gọi là lễ tiễn biệt nhau.

Ngài làm y theo lời dạy. Lúc đó đồng Ngưng đang mê mà đôi hàng nước mắt chảy tuôn tỏ nỗi đau lòng kẻ ở người đi. Thấy vậy, Ngài Chiêu cũng khó cầm giọt lệ.

4. Thời kỳ làm việc ở Sài Gòn:

Ngài Ngô Văn Chiêu được lịnh đổi về Sài Gòn,

Ngài rời đảo Phú Quốc ngày 29-7-1924, Ngài về đến Sài Gòn vào chiều ngày hôm sau 30-6-GiápTý (dl 30-7-1924).

Ngài thuê nhà ở lầu 2 số nhà 110 đường Bonard (nay là đường Lê Lợi) Sài Gòn. Mỗi ngày đi làm việc hai buổi tại Dinh Thống Đốc Nam Kỳ, Ngài thường lui tới Chùa Ngọc Hoàng ở Dakao, ít giao thiệp với người ngoài, dành thì giờ công phu.

Cuối năm Ất Sửu (1925), Đức Cao Đài Tiên Ông dạy Ngài Chiêu đem mối đạo truyền ra. Ngài độ được 4 vị:

- Quan Phủ Vương Quan Kỳ

- Ông Phán Nguyễn Văn Hoài

- Ông Phán Võ Văn Sang

- Đốc học Đoàn Văn Bản.

Ông Vương Quan Kỳ sau khi vào Đạo lại khuyên được 5 ông sau đây cùng vào Đạo:

- Ông Nguyễn Thành Cương

- Ông Nguyễn Thành Diêu

- Ông Nguyễn Hữu Đắc

- Ông Lê Văn Bảy, tự Tý.

- Ông Võ Văn Mân.

5. Đức Chí Tôn lập thêm một nhóm Phò cơ khác:

Trong lúc đó, vào hạ tuần tháng 7 năm Ất Sửu (1925) một nhóm công chức tại Sài Gòn, do sự thúc đẩy của thiêng liêng, đã họp nhau Xây bàn thỉnh các vong linh để tìm hiểu về thế giới vô hình. Nhóm nầy gồm quí Ngài:

- Cao Quỳnh Cư

- Phạm Công Tắc

- Cao Hoài Sang

- Cao Quỳnh Diêu.

Quí ông khởi xây bàn tại nhà Ngài Cao Hoài Sang ở phố Hàng Dừa gần chợ Thái Bình Sài Gòn. Có nhiều Đấng vô hình giáng bàn để tạo cho quí ông niềm tin. Sau đó, Đấng Thượng Đế tá danh AĂÂ giáng bàn độ được 4 ông vào Đạo và gọi Đấng AĂÂ bằng Thầy và Đấng ấy gọi quí ông là Môn đệ.

Thất Nương giáng dạy quí ông dùng Ngọc Cơ để cầu Đức Phật Mẫu và các Đấng thiêng liêng cho được dễ dàng và mau lẹ hơn.

Đêm Trung Thu năm Ất-Sửu (dl 1-10-1925) quí Ngài thiết lễ Hội Yến Diêu trì Cung tại nhà Ngài Cao Quỳnh Cư, số 134 đường Bourdais Sài Gòn, có Đức Phật Mẫu cùng với Cửu vị Tiên Nương Diêu trì Cung giáng chứng lễ và mỗi Đấng cho một bài thi bốn câu làm kỹ niệm.

Đến ngày 1-11-Ất Sửu (dl 16-12-1925) Đức Phật Mẫu dạy ba Ngài: Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang Vọng Thiên cầu Đạo.

Đêm Noel năm 1925 (âl 10-11-Ất Sửu) Đấng AĂÂ mới cho biết Ngài là Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Ngày 05-12-Ất Sửu (dl 18-1-1926) Đức Chí Tôn dạy hai Ngài Cư, Tắc đem Ngọc cơ đến nhà Ngài Cựu Hội Đồng Thượng Nghị Viện Lê Văn Trung để Thầy độ ông Trung.

Lúc bấy giờ, nhóm phò cơ nầy được 7 vị:

- Ông Cao Quỳnh Cư

- Ông Phạm Công Tắc

- Ông Cao Hoài Sang

- Ông Cao Quỳnh Diêu.

- Ngài Lê Văn Trung

- Ngài Nguyễn Trung Hậu

- Trương Hữu Đức.

Nhóm nầy chưa biết gì về nhóm của Ngài Ngô Văn Chiêu, nên chưa có liên lạc hay tiếp xúc.

6. Sự hợp tác giữa hai nhóm:

Ngày 9-12-Ất Sửu (dl 22-1-1926) Đức Chí Tôn dạy quí Ngài: Cư, Tắc, Sang, Trung, Hậu, Đức, phải đến chung hiệp với Quan Phủ Ngô Văn Chiêu mà lo mở Đạo. Ngài còn dạy thêm rằng: Mỗi mỗi việc chi phải do nơi Chiêu là Anh Cả.

Khi hai nhóm hợp lại thì tổng cộng được 13 vị, là:

  1- Ngô Văn Chiêu. 2- Lý Trọng Quí.
  3- Lê Văn Giảng. 4- Võ Văn Sang.
  5- Nguyễn Văn Hoài. 6- Đoàn Văn Bản.
  7- Vương Quan Kỳ 8- Lê Văn Trung.
  9- Cao Quỳnh Cư 10- Phạm Công Tắc.
  11- Cao Hoài Sang 12- Nguyễn Trung Hậu.
  13- Trương Hữu Đức.  

Đêm 30-12- Ất Sửu là đêm giao thừa, sắp bước qua năm mới Bính-Dần, Đức Chí Tôn khiến quí Ngài trong hai nhóm đến thăm từng tư gia của mỗi Môn đệ. Tại mỗi nhà, Đức Chí Tôn giáng ban cho một bài thi, tới khuya, gần đúng giao thừa thì đến nhà Ngài Lê Văn Trung ở Chợ Lớn.

Tại nhà Ngài Lê Văn Trung, Đức Chí Tôn giáng dạy:

“Chư đệ tử nghe!

Chiêu, buổi trước hứa lời truyền Đạo cứu vớt chúng sanh, nay phải y lời mà làm chủ mối Đạo, dìu dắt cả Môn đệ Ta vào đường đạo đức đến buổi chúng nó lập thành, chẳng nên tháo trút. Phải thay mặt Ta mà dạy dỗ chúng nó.

Ông Chiêu bạch hỏi Đức Chí Tôn:

- Qua đến năm 1933 thì Đạo mới lập thành?

Đức Chí Tôn đáp: - Phải.

Trung, Kỳ, Hoài, ba con phải lo thay mặt cho Chiêu mà đi độ người. Nghe và tuân theo.

Bản, Sang, Giảng, Quí, lo dọn mình đạo đức đặng truyền bá cho chúng sanh. Nghe và tuân theo.

Đức, Hậu, tập cơ, sau theo mấy anh con mà độ người. Nghe và tuân theo."

Đó là lời Thánh giáo đầu tiên của Đức Chí Tôn tại đàn cơ nơi nhà Ngài Lê Văn Trung, kỹ niệm ngày Khai Cơ Phổ Độ của Đạo Cao Đài. Đó là giờ Tý ngày 01 tháng Giêng năm Bính-Dần (dl 13-2-1926).

Đêm mùng 8 rạng mùng 9 tháng Giêng năm Bính Dần (đêm thứ Bảy rạng Chúa nhựt 21-2-1926), Lễ Vía Đức Chí-Tôn được tổ chức tại nhà Ngài Vương Quan Kỳ ở đường Lagrandière, các Môn đệ đầu tiên của Đức Chí Tôn hiện diện đầy đủ, Đức Chí Tôn giáng cơ dạy Đạo.

Nhân dịp nầy, Ngài Ngô Văn Chiêu bạch xin Đức Chí Tôn lấy tên của mấy Môn đệ mà cho một bài thi làm kỹ niệm.

Đức Chí Tôn liền cho một bài thi tứ tuyệt:

CHIÊU KỲ TRUNG độ dẫn HOÀI sanh,
BẢN đạo khai SANG, QUÍ, GIẢNG, thành.
HẬU ĐỨC TẮC CƯ Thiên Địa cảnh,
Huờn Minh Mân đáo thủ đài danh.

Đức Chí Tôn có 13 môn đệ đầu tiên nhưng Đức Chí Tôn chỉ điểm danh 12 vị, vì chữ SANG là tên của hai ông: Cao Hoài Sang và Võ Văn Sang.

Huờn Minh Mân là tên của ba vị hầu đàn.

7. Đức Chí Tôn dự bị phong Ngài Ngô Văn Chiêu vào chức Giáo-Tông:

Thánh giáo ngày 6-3-Bính Dần (dl 17-4-1926) Đức Chí Tôn dạy như sau:

“Thầy,

Trung, Cư, Tắc, ba con lập tức lên Chiêu, biểu nó phải sắm sửa liền một bộ Thiên phục màu trắng, trên đầu chẳng phải bịt khăn mà đội mão trắng, có chữ CÀN thêu bằng chỉ vàng, dặn nó mua thứ hàng thiệt tốt. Mão cũng vậy, áo cũng vậy.

Hiếu lại phải nhọc công nữa, Thầy giao phần may sắm cho con, con liệu cho kịp, rằm phải có nghe con. Hiếu lấy chén nước lạnh, Thầy vẽ kiểu mão cho con coi.

Madame Cư bạch Thầy: Mitre (mão Giáo-Tông).

Trước ngực, ngay trán phải để chữ cung CÀN chữ vàng, chữ Bát Quái, còn cái áo, con phải tái cầu Thầy trong lúc may đặng Thầy chỉ sắp mấy cung kia trên áo.

Nghe và tuân theo nghe con." (ĐS. I. 106)

Tái cầu:

Mừng sắp con! Hiếu quì bạch Thầy dạy may áo mão Giáo-Tông bề cao bao nhiêu và mang giày thứ nào?

- Thầy sẽ nhứt định mọi việc.

Thầy dạy: Mão bề cao 3 tấc 3 phân thước Lang-sa, may giáp mối lại thế nào cho có trước một ngạnh, sau một ngạnh, hiệp lại có một đường xếp, ấy là Âm Dương tương hiệp, Hiếu biết mà!

Sợi dây xếp hai lại, còn bên trái có hai dải thòng xuống một mí dài, một mí vắn, mí dài 3 tấc. Giáo-Tông: Thảo hài.

Tái cầu:

Có tạo đỡ một cái Mão bằng giấy dựng lên cho Thầy xem. Cười! Đặng phải vậy, ba con bưng lên cho Thầy chỉ hai mí giáp mối, con coi theo cây viết mà làm theo. Sợi dây viền ăn liền hai bên, đừng cắt rời ra nghe con! Con giỏi lắm Hiếu! Hai dải thòng xuống vai 3 tấc bề dài, 3 phân bề ngang. Phải vậy rồi!.

Cư, để cho Hiếu nó làm (là để cho Hiếu may Mão Giáo-Tông).

Ngày 22-4-1926 (âl 11-3-Bính Dần), tức là 5 ngày sau khi Đức Chí Tôn ra lịnh cho Bà Hương Hiếu (hiền thê của Ông Cư, nên gọi là Madame Cư) may Thiên phục Giáo-Tông cho Ngài Ngô Văn Chiêu, Bà Hương Hiếu dâng mão Giáo-Tông lên cho Đức Chí Tôn xem kiểu vở may như vậy có đúng không.

Đức Chí Tôn giáng cơ nói:

“Hiếu dâng mão Giáo-Tông may xong rồi cho Thầy xem. Trúng, mà ai đội, con phòng lật đật”.

Đức Chí Tôn giáng cơ nói như thế, tức nhiên chúng ta ngầm hiểu là Ngài Ngô Văn Chiêu đã mất chức Giáo-Tông.

Tại sao chỉ trong vòng 5 ngày từ 17 đến 22-4-1926 mà lại có sự thay đổi nhanh chóng như vậy? Đức Chí Tôn không cho biết tại sao, làm cho nhiều người phân vân, nghĩ rằng Ngài Ngô Văn Chiêu cải lịnh Đức Chí Tôn, muốn ở nhà tu tịnh, không muốn tham gia vào cơ phổ độ đông người làm mất sự yên tịnh của Ngài, hay còn lý do nào khác nữa?

Mãi đến gần 3 tháng rưỡi sau, Đức Chí Tôn mới tiết lộ cho biết trong đàn cơ ở Tân Định, tại nhà Ngài Nguyễn Ngọc Thơ, lý do tại sao Ngài Ngô Văn Chiêu mất chức Giáo-Tông.

Xin chép bài Thánh giáo quan trọng nầy ra sau đây.

Ngày 25-6-Bính Dần (Dl 3-8-1926):

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ viết CAO ĐÀI
Giáo Đạo Nam Phương.

“Chư môn đệ nghe dạy:

Vốn từ trước trong Thiên thơ Tam Kỳ Phổ Độ nầy, nền Chánh giáo phải có: Nhứt Phật, Tam Tiên, Tam thập lục Thánh, Thất thập nhị Hiền, Tam thiên đồ đệ, Chưởng quản thâu Tam giáo hiệp nhứt.

CHIÊU, thiệt là Nhứt Phật đó.

Vậy, trước ngày định lập Thiên phong đặng tôn chức Giáo-Tông cho nó, thì Chúa Quỉ sai tam thập lục động địa giái kêu nài với Ta rằng: Cựu phẩm nó chẳng xứng ngôi ấy và kiện rằng: Nó chẳng nhứt tâm thờ phượng

Ta. Ta có cãi lẽ, Quan Thánh Đế và Quan Âm giúp lời, Ta nhứt định phong chức Giáo-Tông cho nó.

Chúa Quỉ xin lịnh Ta mà khảo nó và phải để cho Tam thập lục động hành xác nó. Ta không nỡ nên cho khảo mà không cho hành xác.

Rủi thay! Đau đớn thay! Buổi khảo nó phải bị Tà quái áp chế nên phải mất ngôi, song Ta cũng còn thương yêu chẳng nỡ, nhưng mà có mặt chư Thần, Thánh, Tiên, Phật thì khó bề bào chữa đặng.

Đại lụy! Ta phải dùng quyền Chí Tôn mà tha thứ, song buộc nó phải tịnh thất.

Ta vừa muốn tha nó, lại bị Tam thập lục động khảo nữa thì mới liệu sao? Ta phải giáng cơ biểu nó.

Con Thơ! con phải tuân nơi lịnh Thầy đã dạy khi Thầy giáng cơ mà thôi, còn mọi sự khác thì đừng nghe. Kẻ bị tù còn có thế rỗi ai chăng?

Chư Môn đệ khá nghe lịnh dạy, từ đây, ai còn phạm đến thì Thầy buộc trục xuất cho khỏi rối loạn nền Đạo của

Thầy.” Thầy thăng.

(Trích trong tập Thánh Ngôn chép tay của Ngài Đầu-Sư Thái Thơ Thanh, trang 237)

Ngày 9-1 Bính-Dần (dl 21-2-1926)

Đức Chí-Tôn giáng Cơ ban cho Ông Chiêu bài thơ:

THI

Bao năm dạy-dỗ quá dày công.
Lời hứa năm xưa gắng giữ lòng.
Siêu đọa đôi đường tua chọn lấy.
Lơi chơn một bước sẽ hoàn không

Cao Đài

Theo Đạo-sử của bà Đầu-Sư Hương-Hiếu

(Ngày 21-10 Bính-Dần (dl 26-11-1926)

Thầy nói:

“Thầy cũng thương đó chút. Thầy đã nói cái lòng thương của Thầy hơn biếm trách, nên Thầy chẳng hề biếm-trách các con, ngặt trước quyền của Thần, Thánh, Tiên, Phật biết sao cứu rỗi cho đặng.

“Thầy lại phải làm thinh cho kẻ thì mất lẽ công bình. Thơ nó tưởng Thầy giận mà nài xin tha-thứ. Thầy thì đặng còn chư Thần, Thánh, Tiên, Phật mới nài sao? Nhất là Thái-Bạch Kim Tinh rất khó. Chiêu cũng vì vậy mà mất ngôi. Các con chớ dễ ngươi mà phạm thượng nghe à!”.

Trước đó thì chư Môn-đệ đồng quì lạy Thầy xin thứ tội cho ông Chiêu.

Ông Vương-Quan-Kỳ bạch hỏi Thầy:

-Bạch Thầy: Anh Cả Ngô-Văn-Chiêu bảo Thầy giao cho Ảnh thay Thầy làm Chủ mối Đạo, dạy-dỗ Môn Đệ mà Ảnh không chịu tiếp xúc với chúng con, phải làm sao?

Ngày 13-3 Bính-Dần (dl 24-4-1926 ) trích Đạo-sử bà Hương Hiếu trang 109

Đức Chí-Tôn dạy:

“Chiêu đã có công tu, lại là Môn-đệ yêu dấu của Thầy nên Thầy muốn ban chức Giáo-Tông cho nó, song vì lòng ám-muội phạm đến oai-linh Thầy mà ra lòng bất đức chẳng còn xứng đáng mà dìu-dắt các con, nên Thầy cất phần thưởng nó, Thầy nhứt định để chức ấy lại mà đợi người xứng đáng, hay là Thầy đến chính mình Thầy mà dạy-dỗ các con”.

Tái cầu:

“Các con coi thử đó thì đã hiểu rằng Thầy thương yêu nhơn-loại là dường nào. Cái vui của Thầy là đặng thấy các con hội-hiệp cùng nhau, thương-yêu nhau trong đạo-đức của Thầy, ai còn dám làm cho chia-lìa các con là đứa thù-nghịch của Thầy.

“Chiêu đã hữu căn, hữu kiếp: Thầy đã dùng huyền diệu mà thâu phục, độ rỗi nó trước các con. Biết bao phen Thầy gom các Môn-đệ lại. Thầy sở cậy nó ấp-yêu dùm cho Thầy dường như gà mẹ ấp con. Song nó chẳng vâng mạng lịnh Thầy, lại đành lòng cắn mổ xô đuổi dường ấy, thì làm sao cho xứng đáng cái trách-nhiệm rất lớn của Thầy toan phú-thác cho nó. Các con đừng trông mong rỗi cho nó. Nghe và tuân mạng lịnh Thầy”.

Thầy dạy (đêm 14 rạng 15 tháng 3 năm Bính-Dần (25 và 26-4-1926):

“Chiêu, thiếu đức, thiếu tài.

“Trung, con sợ ai?

“Ta không sợ ai! Ta biết hơn ngươi. Ta há không biết thương sao ?

“Ấy cũng vì thiếu đức. Nó đã biết Ta. Cứ tuân lời Thầy đã truyền mà thi-hành !

Ngày 26 Avril 1926:

Cao-Đài:

“Chiêu, ngươi chẳng kiên lịnh Ta, Ai kiên? Ta chờ ngươi.

“Chiêu, ngươi chẳng thừa lịnh Ta, ai thừa lịnh?

“Ta đã nói ngươi làm đầu Tam-giáo, đã bao phen Ta lập Đạo sẵn cho, ngươi chê há? Ta đã sở định, ngươi dám cải:

“Chuyên quyền từ đó bỏ tuồng xưa,
“Nghe nịnh, nghe khen thói cũng chừa.
“Sám-hối Ta cho tu ít tháng.
“Tài hay, tài khéo chớ đua lừa.

Qua bài Thánh Ngôn nầy của Đức Chí Tôn, chúng ta biết được là Ngài Ngô Văn Chiêu bị Quỉ Vương thử thách trước khi được lên ngôi Giáo-Tông. Ngài bị thử thách và chỉ trong 5 ngày, Ngài không thắng nỗi các thử thách của Quỉ Vương bày ra, nên đành chịu mất ngôi Giáo-Tông.

Sự thử thách của Quỉ Vương là cần thiết đối với Giáo-Tông là phẩm vị số 1 của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, nếu thắng nỗi Quỉ Vương thì bọn chúng mới chịu phục, còn không thắng nỗi thì phải chiụ mất ngôi.

Việc nầy cũng không khác chi thời Đức Chí Tôn sai Đức Chúa Jésus mở Thiên Chúa giáo nơi nước Do Thái để cứu độ các sắc dân Âu Châu.

Sau khi Đức Chúa Jésus thọ phép Giải oan nơi bờ sông Jourdain với Thánh Jean Baptiste, Thượng Đế đưa Đức Chúa Jésus đến nơi đồng vắng đặng chịu cho ma quỉ cám dỗ trong 40 ngày đêm (trong 40 ngày nầy Ngài kiêng ăn, sau thì đói). Quỉ Satan tìm mọi cách thử thách Chúa, cám dỗ Chúa, nhưng không lay chuyển nỗi tâm ý của Chúa. Chúng ma quỉ thất bại bèn bỏ đi. Liền đó có Thiên sứ đến hầu Đức Chúa.

Chúa Jésus chiến thắng Quỉ Vương, nên Chúa trở thành Đấng Giáo chủ, đi giảng đạo và thâu nhận tín đồ, mở ra Thánh đạo ngót hai ngàn năm nay.

8. Ngài Ngô Văn Chiêu tách riêng lập Chi phái:

Sau khi Ngài Ngô Văn Chiêu không thắng nỗi các thử thách của Quỉ Vương thì 2 ngày sau, tức là ngày 24- 4-1926, Ngài Chiêu tự ý tách ra khỏi nhóm.

Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu, trong quyển Đại Đạo Căn Nguyên, nơi trang 18, thuật lại như sau:

“Ông Trung vẫn vâng theo Thánh ý lo thiết đàn giảng Đạo. Ông Chiêu lại ở nhà lo bề tự giác, ý ông không muốn truyền bá mối Đạo ra cho nhiều người. Ông vẫn lấy câu “Ngô thân bất độ hà thân độ” mà làm tôn chỉ. Vì vậy mà ông tách riêng ra kể từ ngày 14 tháng 3 năm Bính-Dần (dl 24-4-1926). Đồng một ý kiến ấy thì có mấy ông: Nguyễn Văn Hoài, Võ Văn Sang, Lý Trọng Quí.

Từ đây, tuy đôi bên chủ nghĩa khác nhau, vì một đàng (Ông Lê Văn Trung) thì lo phổ thông mối Đạo, một đàng (Ông Ngô Văn Chiêu) lại chuyên bề tự giác, nhưng về phương diện tín ngưỡng thì cũng đồng thờ kỉnh Đức Cao Đài Thượng Đế.”

9. Ông Ngô văn Chiêu Lập Cơ Tuyển Độ Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi:

Đầu năm Đinh Mão (1927), Ngài Ngô Văn Chiêu cho những người bạn cũ của Ngài biết là Ngài đã xong nhiệm vụ trong Cơ Phổ Độ và Ngài còn đảm đang một sứ mạng quan trọng khác là lập Cơ Tuyển Độ Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi, gọi tắt là Chiếu Minh Vô Vi. Ngài đổi chữ lót trong tên Ngài thành chữ Minh và kể từ đây gọi Ngài là Ngô Minh Chiêu.

Cách tu của Ngài Ngô Minh Chiêu thật là khổ hạnh.

Ngài đi làm công chức ngày hai buổi, hết giờ làm việc thì lo công phu tứ thời, vì vậy mà Ngài không có thời giờ rảnh.

Số người tìm học Đạo Vô Vi cũng khá đông, nhưng Ngài chỉ lựa vài chục người đệ tử chánh thức thôi, bởi vì việc tu hành của Ngài rất khó, phải có can đảm và bền chí lắm mới theo nỗi. Người tu phải trường chay, tuyệt dục, lập đại thệ đại nguyện với Đấng Thượng Đế. Chừng nào Thượng Đế cho phép (xin keo) thì Ngài mới dạy Đạo cho. Hễ tu thì phải có gan chịu khảo (!), “vô ma khảo bất thành Đại Đạo”. (!).

10. Những cuộc du lịch sau cùng của cuộc đời:

a) Du lịch núi Tà Lơn và Đế Thiên Đế Thích:

Tháng 4 năm Mậu-Thìn (1928), Ngài Ngô Minh Chiêu xin phép nghỉ làm việc 6 tháng. Ngài tổ chức một cuộc du lịch lên núi Tà Lơn và Đế Thiên Đế Thích ở nước Cao Miên. Số đệ tử đi theo Ngài khá đông, chừng 30 người, có các ông: Hội Đồng Huy, Tư Huỳnh, Phán Quí,... Trước khi đi, Ngài ghé Cần Thơ. Ngày khởi sự đi là 13-6-1928, hai ngày sau thì tới Hà Tiên, ghé chùa Tiên Sơn Tự ở Thạch Động để nghỉ ngơi.

Hôm sau Ngài đi qua núi Tà Lơn nước Cao Miên. Ngày 18-6-1928, Ngài tới chùa Kim Cang ở Đế Thiên Đế Thích. Đi du lịch Đế Thiên Đế Thích xong thì phái đoàn trở về Sài Gòn.

Khi hết hạn nghỉ 6 tháng, Ngài Ngô Minh Chiêu trở lại làm việc trong Dinh Thống Đốc Nam Kỳ như trước.

b) Đi du lịch Lục tỉnh:

Chuyến thứ nhứt, Ngài Ngô Minh Chiêu đi qua các tỉnh Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre.

Chuyến thứ nhì Ngài đi các tỉnh: Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu. Chuyến đi nầy có Ông Bà Tư Huỳnh, Bà Hai Ngữ, Cô Ký Út, Ông Bà Hội Đồng Huy, đồng Ngưng.

c) Du lịch núi Tà Lơn lần thứ hai:

Cuối năm 1931, Ngài bị mệt nhiều nên xin phép Chánh phủ cho nghỉ ở nhà dưỡng bịnh.

Ngày 30-3-1932, Ngài đi núi Tà Lơn với ý định bỏ xác nơi đây, nên không muốn trở về. Các đệ tử đi theo hết sức khẩn khoản, Ngài mới chịu trở về.

Bận đi về, Ngài ghé Cần Thơ vào ngày 5-3-Nhâm Thân (dl 10-4-1932) và Ngài ở luôn tại Cần Thơ cho tới ngày liễu đạo. Tại Cần Thơ, Ngài không chịu ở nhà của ai hết, các đệ tử cất cho Ngài một thảo lư cách Châu Thành Cần Thơ chừng 3 cây số để cho Ngài ở. Ngài dạy phải làm bằng cây, lợp lá đơn sơ thôi, vì chỉ tạm dùng chừng một tuần nhựt. Trong lúc cất thảo lư, Ngài tạm ở tại cái am của Bà Tư Huỳnh kế bên.

11. Liễu đạo trên sông Cửu Long Tiền Giang:

Ngài Ngô Minh Chiêu thường nói rằng, Đức Chí Tôn đã định cho Ngài bỏ xác trên sông Cửu Long, nên mới có câu:

“Giờ nầy Thầy điểm thâm công,
“Ngày sau con sẽ cỡi rồng về nguyên.

Ngày 13-3 Nhâm-Thân (Dl 18-4-1932) sáng ra, Ngài nhắc chừng bà Tư Huỳnh lo giùm xe cộ để Ngài về Tân An và cứ nói hoài câu: Sợ trễ giờ. Bà Tư Huỳnh (tức là bà Trần thị Hường) rất kính mến Ngài nên cứ dần dà muốn lưu Ngài ở lại.

Thấy vậy, Ngài biểu mời ông Hội Đồng Võ Văn Thơm vô. Ngài nói với ông Thơm bằng tiếng Pháp để mấy Bà nghe lén không hiểu, chỉ thấy ông Thơm vâng dạ luôn. Đến khi ông Thơm về đem xe hơi vô thì các bà bàn tán xôn xao. Ngài nói: Đi quanh đây rồi trở lại chớ không đi đâu xa.

Lúc ấy cô năm Ngô Thị Nguyệt, con gái của Ngài Chiêu, hỏi Ngài:

- Cha muốn đi về Tân An phải không?

Ngài cười rồi bảo: - Cha đi bí mật.

Đúng giờ Ngọ ngày 13-3-Nhâm Thân, Ngài triệu tập tất cả đệ tử hiện diện công phu. Sau giờ công phu, anh đồng Ngưng cõng Ngài ra xe, đi theo có Bà Thơm, Bà Tư Huỳnh, Cô năm Nguyệt và anh đồng Ngưng. Ngài ngồi một mình ở giữa băng sau, Bà Tư Huỳnh và Bà Thơm ngồi sụt xuống dưới chân Ngài. Da mặt và mình mẩy của Ngài Chiêu từ từ đổi ra màu vàng như nghệ.

Xe chạy đến bến phà Cần Thơ. Qua phà, rồi chạy qua Vĩnh Long đến bến phà Mỹ Thuận. Bà Tư Huỳnh vào mua vé qua phà, xe xuống phà Mỹ Thuận xong, phà chạy ra gần đến giữa sông thì Ngài Ngô Minh Chiêu xuất thần thoát xác một cách êm ái, các đệ tử đi cùng xe hầu Ngài không ai hay cả. Tới chừng công nhân trên phà Mỹ Thuận nhìn vào xe thấy biết, tri hô lên thì mấy Bà mới hay, vội yêu cầu phà quay trở lại.

Thế là Ngài Ngô Minh Chiêu liễu đạo trên sông Cửu Long y như lời Đức Chí Tôn tiên tri, lúc 3 giờ chiều ngày 13-3 Nhâm Thân (dl 18-4-1932), hưởng được 55 tuổi

Xe hơi chở Ngài quay trở lại, vừa lên khỏi phà thì gặp xe của ông Tư Huỳnh và Hội Đồng Huy vừa đến. Tất cả đều quay trở lại thảo lư tại Cần Thơ, đem xác Ngài đặt ngồi tại thảo lư. Lúc bấy giờ da thịt của Ngài trở lại trắng và con mắt trái của Ngài bắt đầu mở to ra, có đủ tinh thần như khi còn sống, còn con mắt bên mặt thì nhắm lại như thường.

Các đệ tử mới nghiệm lại thấy rằng, Ngài Ngô Văn Chiêu biết rõ ngày giờ liễu đạo của Ngài, nên Ngài bảo cất Thảo lư tạm bằng cây lá dùng trong một tuần nhựt, rồi Ngài nói đi quanh đây rồi trở lại chớ không đi đâu xa.

12. Đám tang Ngài Ngô Minh Chiêu:

Nguyên lúc sanh tiền, Ngài Chiêu có dặn các đệ tử, khi Ngài liễu đạo rồi, phải dùng cái áo quan hình lục giác mà liệm ngồi. Lục giác là theo lục tự Cao Đài: NAM MÔ CAO ĐÀI TIÊN ÔNG. Áo quan lục giác có bề kính tâm lối 8 tấc, cao lối 1 thước 2 tấc. Tất cả công việc khâm liệm đều do các đệ tử thân tín tự tay đảm nhiệm. Tháp của Ngài được xây ngay phía sau thảo lư và miếng đất nầy về sau trở thành Nghĩa Địa của phái Chiếu Minh tại Cần Thơ.

Có rất đông tín đồ Cao Đài đến viếng tang. Quan khách đời đến viếng tang khá đông. Báo chí ở Sài Gòn cũng có xuống chụp hình làm phóng sự đăng báo, thông tin đại chúng.

Đám tang của Ngài Ngô Minh Chiêu rất đơn giản, an tịnh, không có nhạc lễ, cũng không đọc kinh chi hết, vì Ngài đã dạy trước rằng: “Lúc sanh tiền, mỗi ngày đều có cầu cho Ngài rồi, Ngài đã biết Ngài là ai, khi chết Ngài sẽ đi đâu, nên khỏi đọc kinh cầu nguyện cho Ngài”

B- NGÀI NGÔ MINH CHIÊU GIÁNG CƠ:

Sau khi Ngài Ngô Minh Chiêu thoát xác về Tiên được 17 ngày, Ngài giáng cơ tại đàn Thất Bửu Sơn ở Châu Đốc, đêm 30-3-Nhâm Thân (dl 5-5-1932).

NGÔ kỳ huỳnh liễu đắc thành công,
VĂN thượng Thiên đình lý luật đồng.
CHIÊU dắt nhơn sanh cơn kiếp khổ,
GIÁNG tường cho rõ hiểu hồn vong.

Chào các hiền đệ. Hiểu ai chăng?

Nay tôi đã từ trần, trong lúc Đạo còn đang nghịch lẫn nhau là bởi nơi đâu? Các hiền đệ có hiểu chi chăng? Cũng bởi vì tiền tài nó hại nhơn sanh.

Thầy có ban cho tôi làm một vị Tiên đồng độ chúng. Nay tôi vâng lịnh Thầy giáng đàn mà dạy anh em lúc khổ nầy:

KỆ

Qui liễu cõi trần đặng thảnh thơi,
Gẫm trong sự thế ngán cho đời.
Kiếp nầy lao khổ sau chung hưởng,
Trời Đất hết lòng giáng khắp nơi.

Tôi kính lời thăm huynh Nguyện và Bần đạo Lắm đặng an vui nền Chánh Lý mà hiểu rõ Thiên cơ.

Tôi mới học được bài phú vắn, nên tôi để lại cho chư Hiền hữu rõ biết:

PHÚ

Trời xoay chuyển nên lương tâm người giục khiến,
Cho nhơn sanh thuyết diễn trần lao.
Chung trí Đạo Thầy mà giúp kẻ đồng bào,
Nay tôi đặng kết giao cùng Tiên, Thánh, Phật.
Sao chư hiền không lo bồi công âm chất,
Giúp cho Thầy, cất Thất cho Thầy,
Tôi qui liễu là bởi như vầy,
Hết kiếp trần oan dây theo ràng buộc.
Tôi tuổi nầy mà đi xem cõi hồng trần soi đuốc,
Dẫn nhơn sanh dắt tuốt Thiên đình,
Công mở Đạo là tại tỉnh Tây Ninh,
Người bởi quấy nên nhơn tình không đầu phục.
Thương Tổ đình nên theo một lúc,
Hại nhơn sanh cui cút tu hành.
Kính ít lời thăm Nguyện và Lắm,
Gắng chí Đạo cho thành,
Tôi dời bước lưu danh cho anh em hậu thế.

Tôi chào Hiền huynh, cho tôi kiếu.

THĂNG.

Sau đây là trích một đoạn trong bài giáng cơ của Ngài Ngô Minh Chiêu ngày 1-3-Bính Ngọ (dl 22-3-1966) trong quyển Thánh Giáo Sưu Tập (1966-1967) trang 43, của Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Cao Đài Giáo Việt Nam

“Chư Hiền đệ, Hiền muội,

Thuở sanh tiền, Bần đạo quyết xuất thế để tìm đến bực siêu đẳng pháp môn, hầu giúp vào cơ Đại Đạo để cứu cánh dân tộc trong khi còn bị đô hộ. Nhưng ước vọng chẳng hoàn toàn vì Thiên số dĩ định nên chưa đoạt đến mục đích, đã vô tình rời bỏ anh em, nên để lại một ảnh hưởng rất lớn cho phái Chiếu Minh là kỳ thân độc thiện. Đó chẳng phải Bần đạo cố tâm, cũng bởi kiếp nạn chúng sanh nên chịu nhiều cảnh chia ly, từ đời tới Đạo, chớ điều xuất thế hay nhập thế của Bần đạo đều là một lòng trung kiên với Đạo, vì nước non dân tộc, vì chí hướng quảng độ quần sanh.

Đến ngày nay, những giáo lý của Bần đạo còn roi lại một công trình dở dang thiếu sót, nên hiện tình, Bần đạo cũng trông vào hướng đạo hiện tại và tương lai, nối tiếp công nghiệp của tiền bối đã qua, hầu thanh minh cho tấm lòng của đệ huynh tiền bối và Bần đạo. Điều ấy rất mong.”

C- Phần kết:

Ngài Ngô Văn Chiêu là vị Môn đệ đầu tiên của Đức Chí Tôn, được Đức Ngài yêu ái nhứt. Đức Chí Tôn đã để ra một khoảng thời gian dài, suốt 5 năm, từ năm 1921 đến năm1925 để dạy Đạo cho Ngài, truyền Bí pháp luyện đạo cho Ngài. Ngài thường được Đức Chí Tôn khen là chăm chỉ công phu, rồi Đức Chí Tôn cho Ngài thấy cảnh Bồng Lai theo lời yêu cầu của Ngài để khích lệ việc tu hành.

Chưa có một Môn đệ nào được Đức Chí Tôn yêu mến đến mức độ ấy. Mục đích của Đức Chí-Tôn là rèn luyện Ngài trở nên người đạo đức hoàn toàn, đắc đạo thành Tiên, Phật tại thế, để giao chức Giáo-Tông cho Ngài làm Anh Cả nhơn sanh, thay mặt Đức Chí Tôn đứng ra mở đạo và dìu dắt nhơn sanh.

Công ơn của Đức Chí Tôn đối với Ngài Ngô Văn Chiêu thật vô cùng to tát.

Thế mà kỳ vọng của Đức Chí Tôn sụp đổ, vì Ngài không vượt qua được cơ thử thách của Quỉ vương, nên Đức Chí Tôn không thể giao chức Giáo-Tông cho Ngài

Có một điều đáng tiếc là Ngài Ngô Văn Chiêu không dám tiết lộ cho bạn Đạo biết là Ngài vượt qua không nỗi các cuộc thử thách khảo đảo của Quỉ vương, khiến nên nhiều người không biết, tưởng lầm là Ngài Ngô Văn Chiêu chống lại mạng lịnh của Đức Chí Tôn, không chịu nhận chức Giáo-Tông.Thậm chí đến nhiều phái cho rằng Đức Quyền Giáo-Tông Thượng Trung Nhựt soán ngôi Giáo-Tông của Ngài Chiêu và từ hiểu lầm này đến hiểu lầm khác và nhất là hoang mang trong giới hậu sinh.

Đức Chí Tôn đặt trọn vẹn sự tin tưởng nơi Ngài Ngô Văn Chiêu, nên không dự bị một vị nào khác để thay thế. Do đó, khi Ngài Chiêu bị rớt trong cuộc khảo đảo của Quỉ vương, thì Đức Chí Tôn phải chuyển pháp, giao chức Giáo-Tông cho Đức Lý Thái Bạch Nhứt Trấn Oai Nghiêm kiêm nhiệm. (Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo-Tông Đại Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ)

Việc mở chi phái Chiếu Minh là một lối thoát cho tinh thần của Ngài Ngô Văn Chiêu lúc đó, chắc chắn không phải là do ý muốn có dự định trước của Ngài, nhưng việc đó lại mở đường cho một số Chức sắc khác khi bất mãn Hội Thánh, tách ra lập Chi phái như quí ông: Phối Sư Ca, Giáo Hữu Chính...Có lẽ vì những lý do đó mà Ngọc Hư Cung rút Ngài Ngô Văn Chiêu về thiêng liêng khá sớm (Ngài Chiêu qui liễu năm 1932), khiến nên Ngài giáng cơ than rằng:

“Giáo lý của Ngài truyền lại cho phái Chiếu Minh còn dở dang thiếu sót, làm cho tín đồ phái Chiếu Minh đi vào con đường độc thiện kỳ thân”…

Tất cả những người theo Ngài phải tách rời khỏi Trường thi công quả phụng sự nhơn sanh do Đức Chí Tôn lập ra. Đạo Cao Đài không có một Giáo-Tông mang xác phàm, Đức Chí Tôn buộc lòng giao cho Đức Lý Thái Bạch kiêm nhiệm chức Giáo-Tông Đại Đạo. Do đó, sự điều hành việc Đạo của Đức Lý phải nhờ nơi Cơ bút của Hiệp Thiên Đài nên không được nhanh chóng và kịp thời. Thế nên, Đức Lý Giáo-Tông, trong Đạo Nghị Định thứ nhì ngày 3-10-Canh Ngọ (1930), ban cho Đầu-Sư Thượng Trung Nhựt (Lê Văn Trung) cầm quyền Giáo-Tông tại thế, để điều hành cơ Đạo hữu hình, còn nhiệm vụ Giáo-Tông Vô Vi vẫn do Đức Lý Giáo-Tông nắm giữ.

Do đó, toàn Đạo Cao Đài gọi Ngài Thượng Trung Nhựt là Đức Quyền Giáo-Tông Lê Văn Trung.

Kể từ đó tới nay, Đạo Cao Đài chỉ có một Giáo-Tông là Đức Lý Thái Bạch và một Quyền Giáo-Tông tại thế là Ngài Lê Văn Trung. Tất cả những vị nào khác xưng danh là Giáo-Tông, hay Đệ nhứt Giáo-Tông, Đệ nhị Giáo-Tông... đều là tiếm xưng cả. Và chúng ta thấy rõ, Ngài Ngô Văn Chiêu khi về cõi thiêng liêng, trở lại giáng cơ, chỉ xưng tên họ của Ngài, chớ không bao giờ Ngài dám xưng là Giáo-Tông. (Tham khảo thêm tài liệu Tự điển Cao-Đài của Hiền tài Hồng)

03. Ông Vương Quan Kỳ (1880-1940)

(Bỏ Đạo tách ra lập phái Cầu-kho)

Năm Mậu-Thìn (1928):

Do áp lực của thực dân Pháp “muốn theo Cao-Đài thì tự lập chi phái, còn theo anh Lê văn Trung sẽ bị Pháp khủng bố”. Nhóm đàn Cầu kho có quí ông Vương quan Kỳ, Đoàn văn Bản, Nguyễn văn Kinh, Nguyễn văn Đạt, Lê văn Giảng, Ngô tường Vân, Nguyễn văn Mùi... chủ trương dùng văn chương hoằng khai Đại Đạo, phổ độ. Họ thành lập Cơ quan ngôn luận “La Revue Caodaisme” xuất bản bán nguyệt san gồm ba thứ chữ: chữ Việt, chữ Hán và chữ Pháp, cứ nửa tháng ra một số phát hành ra nhiều nước trên thế giới như Trung Hoa, Anh, Pháp, Đức, Ý, Bĩ…quảng bá chơn truyền, luật pháp, giáo lý ra nước ngoài. Nhóm này lập thành phái Đạo Cầu kho.

Phái Cầu Kho do Giáo Sư Thượng Kỳ Thanh (Vương Quan Kỳ) đứng đầu, qui tụ được các ông: Giáo Sư Thượng Bản Thanh (Ðoàn Văn Bản), ông Nguyễn Văn Tường, Trần Quang Mính, Nguyễn Văn Khai... Phần lớn số trí thức Cao Ðài ở Sài Gòn đều ngã theo phái Cầu Kho.

Ông Vương Quan Kỳ là Ðốc phủ, được Ngài Ngô Văn Chiêu độ, sau được Ðức Chí Tôn phong phẩm Thượng Giáo Sư .

Nguyên năm 1930, số Chức sắc tại Thánh Thất Cầu Kho do ông Kỳ cầm đầu, không tuân lịnh Hội Thánh Tây Ninh thi hành quyển “Nghi Tiết Ðại Ðàn Tiểu Ðàn” do Ngài Bảo-Văn Pháp-Quân biên soạn, trình lên Ðức Phạm Hộ-Pháp, rồi chuyển qua Cửu Trùng Ðài, Hội Thánh xem xét đồng ý thì Ðức Quyền Giáo-Tông ban hành kể từ ngày 12-7-1930 để áp dụng thống nhứt trong toàn Đạo.

Trong quyển nầy, Ngài Bảo Văn Pháp Quân bỏ ba bài Dâng Tam bửu cũ do Ngài Ngô Văn Chiêu đặt ra đã áp dụng trước đây, thay bằng ba bài Dâng Tam bửu mới mà ngày nay chúng ta thường đọc. Quí Chức sắc ở Cầu Kho không chịu áp dụng các nghi tiết mới ban hành, nên quí Ngài tự tách ra lập thành Chi phái Cầu Kho, lấy Thánh Thất Cầu Kho làm trụ sở. Về sau, Thánh Thất nầy dời đến đất mới gần đó, xây dựng lên đặt tên là Thánh Thất Nam Thành, ở đường Nguyễn Cư Trinh Sài Gòn

* Phần đời: Tri phủ Sở thuế thân:

Ông Vương Quan Kỳ (1880-1940) là con của ông bà Vương Quan Ðể và Huỳnh Thị Bảy, người tỉnh Chợ Lớn, cháu nội Thống Chế Vương Quan Hạc. Ông ngoại là nhà Nho yêu nước Huỳnh Mẫn Đạt (1807-1883), đậu cử nhân, làm quan hai triều Minh Mạng và Tự Đức, rồi từ quan khi nhà Nguyễn ký Hòa ước 1862 với Pháp.

Ông Kỳ học tại trường Chasseloup Laubat, đậu bằng Thành Chung (Diplôme), làm việc tại Dinh Thống Ðốc Nam Kỳ, ngạch Tri phủ, bạn cùng sở với Ngài Ngô Văn Chiêu nên được Ngài Chiêu độ theo Ðạo Cao Ðài.

Ông Kỳ là em ruột của Vương Quan Trân. Ông Trân là cha ruột của Cô Vương Thị Lễ Thất Nương Diêu Trì Cung (tức là chú của Vương Thị Lễ). Nhà riêng của ông Kỳ ở tại số 80 đường Lagrandière, sau đổi lại là đường Gia Long, Quận Nhứt, Sài Gòn.

* Phần Đạo: Giáo Sư của Tòa-Thánh Tây-Ninh:

Ông Vương Quan Kỳ là một trong 12 Môn đệ đầu tiên của Ðức Chí Tôn được Thiên phong Giáo Sư Thượng Kỳ Thanh ngày 14-5-Bính Dần (1926).

Năm 1930, ông Vương Quan Kỳ cùng các Chức sắc nơi Thánh Thất Cầu Kho tách ra khỏi Tòa Thánh Tây Ninh, lập ra Chi phái Cầu Kho, hành đạo riêng, không theo hệ thống Toà Thánh Tây ninh.

Bài thơ Đầu tiên Đức Chí-Tôn cho Ông Vương Quan-Kỳ như vầy:

Nhựt nhựt tân hề nhựt nhựt tân,
Niên đáo tân hề đạo dữ tân.
Vô lao công quả tu đương tác,
Niên quá niên hề Đạo tối tân.

Ông có Pháp-tịch, thuở nhỏ học ở Mỹ-Tho rồi trường Chasseloup Laubat, đậu Thành Chung, làm quan tới Phủ sứ, thọ phong Giáo-Sư ngày 26-4-1928.

Ngày 15-3 Bính-Dần ông được phong chức Tiên đắc Lang quân nhậm Thuyết đạo Giáo-sư. Rồi ông được Thiên-phong Giáo-sư phái Thượng, tức là Thượng-Kỳ Thanh ngày 14-5 Bính-Dần.

Nhưng đến ngày 14-11 Bính-Dần (18-12-1926) thì Đức Lý giáng dạy:

“Thượng-Kỳ-Thanh bị sụt chức làm Giáo Hữu. Như không tuân lịnh xuất ngoại”

Đến ngày 18-11 Bính-Dần (22-12-1926)

Đức Lý dạy:

“Thượng-Trung-Nhựt, Hiền-hữu viết thơ cho mấy Thánh-Thất lục tỉnh nói Thượng-Kỳ Thanh bị trục xuất ra khỏi hàng Môn-đệ chẳng quyền-hành truyền Đạo nữa. Như nó chẳng tin nghe lời bị phạt Tả đạo bàng môn thì chịu, nghe à! Đã lập pháp mà nó muốn làm chi thì làm như buổi trước vậy hoài, thì bị phạm Thiên-điều tránh sao cho khỏi tội. Hộ-Pháp Hiền-hữu khá an lòng.”

Qua ngày 28-11 Bính-Dần (1-1-1927) thì:

Đức Lý giáng dạy:

“Thượng-Trung-Nhựt, Hiền-hữu từ đây coi Thượng Kỳ-Thanh như một Môn-Đệ vậy thôi, chứ chức Giáo-Hữu cũng cất luôn nữa. Thầy để lời xin tha mà pháp-luật đã phạm tha sao cho được”.

Vào năm 1930, Giáo-Sư Thượng Kỳ-Thanh tức là Vương-Quan-Kỳ, không tuân lịnh Toà Thánh Tây-Ninh áp dụng nghi lễ mới, nên tách ra lập phái Cầu-kho, lập tại Thánh-Thất Cầu-Kho.

Trong Con Ðường Thiêng Liêng Hằng Sống, Ðức Hộ-Pháp thuyết đạo đêm 8-9-Mậu Tý (dl 10-10-1948) nhắc lại khi Ðức Ngài xuất chơn thần về thiêng liêng có thấy ông Vương Quan Kỳ trên đó, Ðức Ngài thuật lại như:

“Bần đạo thấy người bạn nhờ ơn thiêng liêng của Chí Tôn riêng ban cho người ấy, người ấy có người chí thân là một Ðấng cầm quyền trọng hệ trên Hư linh tức là Thất Nương Diêu Trì Cung. Bần đạo nói rõ, người ấy là Vương Quan Kỳ, chú ruột của Thất Nương vậy. Người mở đạo mà chẳng biết đạo là gì hết, đi theo một tư tưởng của nền Chánh giáo của Ðức Chí Tôn định quyết, mà tư tưởng của người ấy và cả hành tàng nếu chúng ta thấy sẽ lên án là Tả đạo Bàng môn chắc hẳn vậy.

Lạ thay! Khi Bần đạo quay lại dòm thấy nhiều bạn rơi xuống Bích Hải khóc lóc, còn người đó trước bận Thiên phục Giáo Sư, nhưng bây giờ thì áo tốt vắt vai, mão cầm nơi tay, bận quần cụt ở trần, đi ngật ngờ ngật ngưỡng, cười một mình, không biết cười cái gì, đi ngang Bát Quái Ðài như không vậy.

Ấy các bạn đủ biết, dầu hành tàng của người bề hữu vi thấy trái hẳn nền chơn giáo của Ðức Chí Tôn mà trọn tâm tín ngưỡng Ngài, người thọ Thiên phục áo mão, dầu không thế gì mặc vô được, duy cầm nơi tay, đi ngang vô Bát Quái Ðài, không quyền luật nào ngăn cản được. Chúng ta lấy bài học ấy đặng để trong tâm, đừng phê bình công kích." (Trích Con đường TLHS, trang 11)

04- Đầu-Sư phái Thái: Hòa Thượng Thiện Minh, Thánh danh là Thái Minh Tinh.

(Không hành Đạo bị Đức Lý cách chức)

Trong năm Khai Đạo, Đức Chí Tôn Thiên phong ba vị Đầu-Sư sau đây vào phẩm Đầu-Sư đầu tiên của Đạo Cao Đài có mang ba chữ: Nhựt, Nguyệt, Tinh là ba bửu của Trời, là:

- Đầu-Sư phái Ngọc: Ngài Lê Văn Lịch, Thánh danh là Ngọc Lịch Nguyệt.

- Đầu-Sư phái Thượng: Ngài Lê Văn Trung, Thánh danh Thượng Trung Nhựt, sau được thăng Quyền Giáo-Tông.

- Đầu-Sư phái Thái: Hòa Thượng Thiện Minh, Thánh danh là Thái Minh Tinh.

Ngài Thiện Minh là học trò của Hòa Thượng Như Nhãn, được Thiên phong Thái Đầu-Sư ngày 13-10-Bính Dần, nhưng Ngài không hành Đạo, nên ngày 12-12-Bính Dần (dl 15-1-1927), Đức Lý Giáo-Tông cách chức Thái Đầu-Sư của Ngài Thiện Minh.

Cũng trong ngày nầy (12-12-Bính Dần), Đức Chí Tôn phong Ngài Dương Văn Nương chức Thái Đầu-Sư, Thánh danh Thái Nương Tinh.

Ba vị Đầu-Sư đầu tiên có mang chữ: NHỰT, NGUYỆT, TINH là ba báu của Trời, đó là một đặc ân của cơ quan Cửu Trùng Đài. Nhưng chắc cũng là trong vòng hữu định nên khiến như thế, vì mặt trời (NHỰT) cũng như mặt trăng (NGUYỆT) mỗi thứ chỉ có một, nên hai vị này giữ phẩm tước được bền bĩ, còn TINH tức là sao có đến 3.072 sao nên khiến cho vị mang chữ Tinh có đến hai người là Đầu-Sư: Thái Minh Tinh và Thái Nương Tinh.

Từ đó về sau thì tất cả Chức sắc Cửu Trùng Đài, dù ở phẩm Đầu-Sư đi nữa cũng lấy Thánh danh là chữ Thanh (cho nam phái), nữ lấy chữ Hương mà thôi.

5- Ông Phối Sư Thái Ca Thanh

(lập Minh Chơn Lý)

Trong cơ Ðạo phân chia Chi phái, năm 1931 Phối Sư Thái Ca Thanh rút khỏi Toà Thánh Tây ninh về Mỹ Tho lập phái Minh Chơn Lý, Ngài Ngọc Chưởng Pháp Trần Đạo Quang hợp tác với Minh Chơn Lý, sau đó thấy ông Ca và ông Phùng sửa đổi hết cách thờ phượng, nên Ngài rút khỏi Minh Chơn Lý, xuống Bạc Liêu hợp tác với ông Cao Triều Phát mở ra phái Minh Chơn Ðạo năm 1935.

Năm 1937, Ngài Ngọc Chưởng-pháp ra hành đạo ở Ðà Nẵng. Lúc đi ra Trung, Ngài Ngọc Chưởng Pháp Trần Đạo Quang không có giấy thuế thân, nên Ngài lấy giấy thuế thân của người trong làng tên là Hà Văn Thuần để xin làm căn cước thì mới được phép ra miền Trung, cho nên khi hành đạo ở Ðà Nẵng, Ngài lấy tên là Hà Văn Thuần. Ngài ủng hộ bổn đạo nơi đây xây dựng được Thánh-Thất Trung-Thành, để làm cơ sở hoạt động của Cơ Quan Truyền Giáo Trung Việt.

Ngày 17-2-Bính Tuất (dl 20-3-1946), Ngài Ngọc Chưởng Pháp Trần Ðạo Quang đăng Tiên tại chùa Linh Quang Tự ở Gò Vấp, Gia Ðịnh, hưởng thọ 77 tuổi.

Thi hài của Ngài được an táng tại nghĩa trang Minh Sư gần Linh Quang Tự. Sau nầy, do nhu cầu mở rộng sân bay Tân Sơn Nhứt, Linh Quang Tự và nghĩa trang đều bị giải tỏa, bổn đạo cải táng Ngài về phần đất ở phía sau Thánh Tịnh Minh Kiến Ðài vào ngày 15-8-Kỷ Mùi (1956) thuộc xã Thông Tây Hội, cũng thuộc quận Gò Vấp.

(Trích trong Ðuốc Chơn Lý, số 51 trang 12)

1- Hoạt động đạo sự của Minh Chơn lý:

Thêm vào sự canh cải đó, Minh Chơn Lý gọi Cửu Trùng Ðài và Hiệp Thiên Ðài là hai phẩm tước chớ không phải là hai cơ quan như trong Pháp Chánh Truyền qui định. Phái ấy cho rằng hai chức nầy hiệp với Ðức Chí Tôn làm thành một cái gọi là Tam Thân Hiệp Nhứt. Những phẩm Chức sắc trên Chánh Phối Sư còn có Thiên Sư, Tứ Bửu, Ðầu Sư, Cửu Trùng Ðài, Tam Tôn. Kinh sách thì sửa đổi hầu hết, không theo như Pháp Chánh Truyền, tuy giọng đọc na ná mà thôi..

Tệ hại hơn nữa là Minh Chơn Lý đã xóa bỏ nguồn cội nền chơn Ðạo. Cơ bút của Minh Chơn Lý dạy như sau:

"Thầy xuống lập đạo có một mình Thầy hiệp với hai Chưởng quản, một là Lê Văn Ðược làm chức Hiệp Thiên Ðài (hồn) của Ðạo, là bậc Chơn như có Phật Hàng Long hiệp mới thành chánh vị Tam Tôn chủ tam hồn, đội áo Khai Thiên (12 thước vải trắng) đứng trên ngọc ỷ, phía trước mặt kế bên án có ông Cửu Trùng Ðài Nguyễn Văn Ca là xác của Ðạo. Ðạo có một xác một hồn mà thôi. Cửu Trùng Ðài nhờ chuyển kiếp 9 lần mới hiệp cùng Phật An Thiên nên Thánh danh kêu là Bửu An Thiên 18 năm, trong thời gian ấy chịu trả vay nhiều nỗi. Còn ai bày ra Hiệp Thiên Ðài, Cửu Trùng Ðài là hồn ma xác quỉ, đó là giả dối.”

(Trích trong Ðuốc Chơn Lý số 51 trang 97)

Vì sự canh cải Chơn truyền Luật pháp nên Minh Chơn Lý tuy hấp dẫn được một số Chức sắc Ðại Thiên phong buổi đầu, nhưng sau nầy lại trở thành một tệ đoan lớn lao hơn hết trong sự phân tán nhà Ðạo. Do đó, có thể nói rằng, phái Minh Chơn Lý, ngay sau khi tự canh cải Chơn truyền, thờ phụng sửa đổi nghi thức, không còn dính dáng gì của vẻ Ðạo Cao Ðài nữa và như thế phái nầy không tránh khỏi bàn tay Tà Thần vậy”.

Theo lời các tiền bối kể lại, nguyên căn của Phối Sư Thái Ca Thanh là Ðộc Giác Thanh Ngưu của Ðức Lão Tử giáng phàm, Truyền Trạng Phạm Văn Ngọ là Từ Giáp giáng phàm. Thanh Ngưu ở với Ðức Lão Tử lâu năm nên có nhiều phép biến hóa huyền diệu, xem truyện Ðông Du Bát Tiên thì rõ.

Ngay lúc mà Đức Tôn sư Hộ-Pháp mặc khôi giáp rực rỡ đến trình diện trước Ngọc Hư Cung. Thanh ngưu của Đức Lão Tử kinh hoảng giựt mình chạy làm đứt dây sứt lỗ mũi, chạy bay xuống thế đầu kiếp làm Nguyễn văn Ca, có ý định để trả thù Hộ-Pháp sau này.

2- Cuộc Ân oán đối với Đốc Phủ Ca:

Nguyên khi Ðốc Phủ Ca làm Quận Trưởng Châu Ðốc, ông vâng lịnh Thực dân Pháp ruồng bố các nhóm Cách Mạng chống Pháp đang lập căn cứ trong Thất Sơn, giết chết ông Cử Ða và bắt học trò của Cử Ða là Bảy Do giao cho Pháp xử tử. Linh hồn Bảy Do lên kiện nơi Ngọc Hư Cung. Ngọc Hư Cung cho phép ông Bảy Do báo oán và giao phận sự giục loạn trong nền Ðại Ðạo của Ðức Chí Tôn để trục ngoại các thành phần phản đạo, rửa ráy hàng ngũ Chức sắc cho trong sạch.

Ngày 21-7-1934, tại Phạm Nghiệp, Ðức Hộ-Pháp cùng Ngài Cao Tiếp Ðạo phò loan, ông Bảy Do nhập cơ:

BẢY DO

“Kính chào chư vị Ðại Ðức và chư Ðạo hữu,

- Xin cho biết phẩm vị.

- Thần. Thầy của Bần tăng mắc chuyển cơ đặng giáo hóa TRANG, TƯƠNG, nên đến không đặng, mới sai Bần tăng thưa lại cùng chư quí vị.

Thưa Ðức Hộ-Pháp, Bần tăng lấy làm bất nguyện vì buổi nọ Ngọc Hư Cung ban lịnh cho trừ diệt Phủ CA đặng báo oán. Bần tăng đã dụ nó vào Cấm Sơn và định đưa luôn vào ngục thất đặng sát hại, nào dè có lịnh Chí Tôn mật chỉ không cho sát mạng. Sau Bần tăng muốn nhập thể nó làm cho nó điên cuồng rồi bắt nó tự ải, nào dè Chí Tôn lại binh vực cấm ngăn thêm nữa, chỉ cho hành bịnh mà thôi. Nay nó bị điêu tàn cơ giả Ðạo nên mang bịnh thất tình, tưởng khi Bần tăng cũng còn phương tẩy hận.

Ngài nín nẩm lóng tin thì hiểu rõ hành tàng mọi lẽ.

Còn hai người TRANG, TƯƠNG thì Ngọc Hư Cung cho khảo. Thần đặng phép thử, khử tà trừ trược đủ ba năm khảo án, rồi dạy dỗ cho nó trung tâm, rồi cho trở lại Hội Thánh.

- Không. Cười . . . Hạng Thiên Thánh mà vào phẩm Ðầu Sư sao đặng. Bần tăng tưởng khi Ngài hiểu điều ấy chán chường, chẳng cần để luận. Họ chỉ lãnh Hàm phong là may mắn lắm đó." ( tài liệu sưu tập của Quang Minh)

3- Ba vị Tướng soái của Chí-Tôn:

Ngày 11-5 Mậu Thìn (Thứ Năm: 28-6-1928)

Đức Thượng Đế giáng Cơ dạy rằng:

- Trung! Hai em con là Cư và Tắc từ đây hằng ở bên con đặng cùng lo phổ độ.

Đối với ba vị Đại Thiên Phong của Toà Thánh là cột đồng vững chắc lúc nào cũng ra tay chống đỡ đạo quyền, các Ngài lo cho chúng sanh tức là lo cho cả đại đồng nhơn loại. Lúc này Đạo phải lén lút đưa một số người ra ngoại quốc du học theo phong trào Đông du mới phối hợp với bốn nhà Nguyễn đưa người đi tìm đường cứu nước, nên những tiền bạc gom góp để hỗ trợ cho việc này không dám công khai mà các Ngài phải chịu mang tiếng. Nhất là Đức Quyền Giáo-Tông phải chịu phần mạ lỵ của nhóm người chống đối luôn rình rập và làm khổ Ngài. Nhưng khổ nỗi việc làm phải dấu kín làm sao phơi bày sự thực, nên phải đành ngậm miệng, thừa thế lũ người ấy càng làm lớn chuyện để sỉ nhục các Ngài.

1/-Thực dân pháp tiến hành âm mưu:

- Với Đức Quyền Giáo-Tông thì:

Thực dân Pháp cung cấp tài liệu cho nhóm người “bồi bút” viết báo nói xấu Đức Quyền Giáo-Tông Lê văn Trung, đả kích rằng: mọi việc ăn, ở, sinh hoạt của Đức Ngài đều do Hội-Thánh Cao-Đài lo chu đáo, thế mà hằng tháng Đức Ngài còn nhận 50 đồng của Đạo làm “sinh hoạt phí”. Đức Ngài là người lãnh đạo tối cao của Đạo Cao Đài, thế mà Đức Ngài còn dùng nhiều bút hiệu viết báo cho nhiều tờ báo để lấy tiền nhuận bút. Tất cả tiền bạc vay hỏi là lén lút trao cho nhóm người ra nước ngoài lo phần ăn học và lo phần cứu nước.

- Với Đức Cao Thượng-Phẩm:

Chúng viết báo nói xấu Ngài là không lo thi hành trách nhiệm, bảo vệ chơn truyền luật pháp Đại Đạo, việc phá rừng lập Thánh địa chi tiêu không minh bạch. Mua sắm vật liệu giá cao hơn giá thị trường, việc chi thu không rõ ràng….đủ thứ hết.

- Với Đức Hộ-Pháp:

Họ cũng thi hành vấn đề viết báo bêu xấu Đức Ngài không thi hành trách nhiệm bảo thủ chơn truyền luật pháp Đại Đạo, không triệu tập Hội-Thánh Hiệp-Thiên-Đài để thụ lý xét xử đơn tố cáo của đồng đạo: tố cáo Đức Quyền Giáo-Tông và cả Đức Thượng-Phẩm nữa. Rằng Ngài luôn có lập luận bao che cho các bậc Chức sắc bề trên.

2/- Thực dân Pháp mua chuộc, hăm doạ và cưỡng bức nhà Nho Đặng Thúc Liêng và Hoà Thượng Thái Diên cùng ba nhà báo hợp soạn quyển Cao-Đài Đàm quái giáo nghị, mục đích là xuyên tạc, vu khống, đả phá, mạ lỵ Đạo Cao Đài, in tràn lan, phổ biến rộng rãi khắp nơi, loan truyền khắp các giới. Kết quả là làm cho dư luận xôn xao, trong quần chúng hoang mang và những người không vững đạo tâm sẽ có những hành động táo bạo, sự rạn nứt bắt đầu: Do đó phái của ông Phối Sư Thái Ca-Thanh (Tri phủ Nguyễn văn Ca) bỏ Toà Thánh Tây ninh về Rạch giá phổ biến “Chánh tà yếu lý” lập ra nhóm An-Thiên-Hội, lập Toà Thánh Tam Bình ở Rạch giá, Toà Thánh Trung ương ở Cầu Vỹ, Mỹ Tho, lập phái Cao-Đài Minh Chơn Lý tự phong làm Giáo-Tông, tức nhiên tạo những đàn Cơ thiếu nghiêm túc, rồi quay lại chỉ trích Hội-Thánh Cao-Đài Toà Thánh Tây ninh là nơi đã khai sanh ra chính các phẩm tước của các vị ấy, chính con người của họ nữa kìa!

Lúc bấy giờ Toà-Thánh bị quá nhiều khảo đảo từ trong nội bộ vì nghe theo nhóm người phá Đạo cùng sự xúi giục của người Pháp, gây ra phe này phái nọ làm chao đảo tinh thần những ai nhẹ đức tin. Nhưng người chịu nạn nặng nề nhứt là các Ngài:

- Đức Quyền Giáo-Tông Thượng Trung Nhựt

- Đức Hộ-Pháp Phạm Công-Tắc.

- Thượng-Phẩm Cao Quỳnh Cư

Những phe chống Hội Thánh, trong đó có:

Phái Minh Chơn Lý ra đời. Phái nầy do Ngài Ðốc phủ Nguyễn Văn Ca lập ra. Ông nhập môn vào Ðạo Cao Ðài năm 1926, được Ðức Chí Tôn phong phẩm Phối Sư Thái Ca Thanh. Ông Ca đóng góp nhiều công sức trong việc xây dựng tờ báo La Revue Caodaïste, bằng Pháp văn để truyền bá Ðạo Cao Ðài cho người ngoại quốc.

Ông Ca vâng theo Cơ bút của ông Trương Kế An (hiệu là Tuyết Vân Mặc Khách) nên ông Ca ở luôn tại Cầu Vỹ, Mỹ Tho, không về Tòa Thánh Tây Ninh và không tuân mạng lịnh của Hội Thánh nữa, lập phái Minh Chơn Lý vào năm 1931.

Ông Ca lôi kéo được một số Chức sắc hiệp tác với ông buổi đầu như:

- Ngài Chưởng Pháp Trần Ðạo Quang,

- Vài Chức sắc ở Cầu Kho,

- Quí ông Cao Triều Phát,

- Nguyễn Ngọc Thiệu.

Cơ bút do ông Trương Kế An cầu, phong ông Ca làm Ðầu Sư Thái Ca Nhựt. Cũng trong năm nầy, Cơ bút lại dẫn ông đi xa hơn nữa, qua các kỳ An Thiên Ðại Hội, gọi ông là Ðức Cửu Trùng Ðài. Từ đây, chưởng quản Hiệp-Thiên-Ðài là Thiên Sư Nguyễn Văn Phùng cầu cơ sửa đổi hết cách thờ phượng và nghi lễ, thay Thiên Nhãn bằng Trái Tim và Thập ngũ Linh Ðăng, rồi giải thích Thánh Ngôn một cách lệch lạc, khiến cho không còn gì là chơn truyền của Ðạo Cao Ðài nữa.

Các Chức sắc trước đây hiệp tác với ông Ca thấy vậy liền rút khỏi Minh Chơn Lý, đồng xuống Bạc Liêu là quê hương của Ngài Cao Triều Phát lập phái Minh Chơn Ðạo, xây dựng Tòa Thánh Ngọc Minh ở Giồng Bướm, Giá Rai, Cà Mau.

Phái Minh Chơn Lý hiện nay thu hẹp rất nhiều, lại chia làm hai: chi Chơn Lý tại Cầu Vỹ (Minh Chơn Lý cũ) và Tòa Thánh Cao Ðài Việt-Nam tại Bến Tranh.

Trong Đạo lúc này có lẽ rối như tổ ong, vì không còn ai nghe ai nữa. Thầy giận mà rằng:

Thầy hỏi:

-“ Thằng CA nó phản đạo là tại cớ nào? Nói Thầy nghe thử...

- Không phải vì vậy mà thôi, mà tại gương xấu của các con phản phúc lẫn nhau, nhục mạ lẫn nhau, mưu hại lẫn nhau, giành giựt quyền hành, gây điều bất chánh, đến đỗi Hiệp-Thiên-Ðài cũng thế.

- TẮC! Con nghe rõ: nhiều đứa dùng Cơ Bút mà làm ngọn đao thương đặng sát phạt mắng chửi nhau, ngày nay mới làm mối oan khiên cho Tà Thần bắt chước.

Hại thay cho một nền Tôn giáo chơn chánh dường nầy, bị phàm tâm của các con đã ra ô trược...

Thầy đã thấy trong Thiên thơ, tội tình của mỗi đứa, Thái Bạch đã giao nạp cho Ngọc Hư Cung rồi, đã đủ mặt Cửu-Trùng-Ðài và Hiệp-Thiên-Ðài đều có hết.”!

Về Phối Sư Thái Ca Thanh:

Sau đây, xin trích một đoạn trong quyển Lịch Sử Cao Ðài Quyển 2 của Ðồng Tân, trang 391-395:

"Thế là một phái nữa thành hình, ban đầu lấy tên là Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ Minh Lý Hội, sau đổi thành Minh Chơn Lý Hiệp Ngũ Chi.

Những việc ông Ca làm buổi ban sơ xem cũng có mòi xây dựng, nhưng qua năm 1935, Chưởng quản Hiệp Thiên Đài là Thiên Sư Nguyễn Hữu Phùng chấp cơ sửa đổi hết cách thờ phượng, lễ bái, nghi tiết, đổi sự thờ Thiên Nhãn bằng Trái Tim và Thập ngũ Linh Ðăng. Vì lẽ ấy mà phần lớn Chức sắc, một số trở về Cầu Kho giữ nguyên gốc cũ làm thành nhóm bảo thủ, còn một số thì hợp tác với phái Tiên Thiên. Minh Chơn Ðạo cũng nảy sinh khi phái Minh Chơn Lý bắt đầu đi sâu vào Tà phái.

Việc ông Ca tách ra thành hình phái Minh Chơn Lý là cơ đại khảo trong Đạo, nhưng cũng do nghiệp báo của ông, nên sự canh cải làm cho thất chơn truyền là một sự nguy hại cho ông và cho phái ông rất nhiều.

Ðể chứng minh điều nầy, ta hãy xem bài cơ bút sau đây đã giải thích huyền vi Thiên Nhãn một cách rất tà mị, dù người kém chữ nghĩa đến đâu cũng không thể hiểu như vậy được.

Bài trích trong tập Ðuốc Chơn Lý, do Tòa Thánh Ðịnh Tường (Minh Chơn Lý, Cầu Vỹ) xuất bản năm 1955:

“VÔ VI HIỆP THIÊN ÐÀI

Ngày 19 tháng 8 âm lịch 1938 (7 giờ tối)

- Ðược! Con nghe Thầy dặn, nay Thầy giải nghĩa câu: Nhãn thị chủ tâm, Lưỡng quan chủ tể, quan thị Thần, Thần thị Thiên, Thiên giả Ngã dã.

Trước Thầy có hứa sau Thầy sẽ chỉ rành là đợi cho đến ngày nay là đúng Tam Kỳ Phổ Ðộ, Thầy phải giải cho rành cho cả thảy đặng hay kẻo nhiều đứa nó ước ao trông đợi.

Giải nghĩa như vầy:

Chữ Nhãn thị chủ tâm nghĩa là cái nhãn của mỗi người đó là chủ nghĩa ở nơi tạng Tâm mà truyền ra, ấy là trái tim nên hình cái Nhãn cũng tương tự trái tim vậy. Ðó là Tâm nội xuất hình ư ngoại đó nên lấy nó mà làm chủ nghĩa đặng cho đời xem chung nên gọi là Nhãn thị chủ Tâm là vậy đó.

Lưỡng quan chủ tể, chữ tể nầy là cai trị (gouverner) nghĩa là hai điều quan hệ trong sự ngó dòm, coi xét, đó phải ngăn ngừa phòng sợ, trong đó có chánh có tà, đó là lưỡng quan là hai ngõ, hễ ngó chánh thì có chánh, ngó tà thì có tà, trong đó có một ngôi chủ tể xem xét không lầm nên phải quan phòng là vậy đó.

Quan thị Thần, chữ quan nầy là khán (observer), chữ thị nầy là thật (droit) nghĩa là xem xét đặng làm việc phải là chữ thị đó. Thị trong đó có Thần. Thần nầy là Thần huệ diệu minh là điển đó, nên gọi là điển quan Thần diệu huệ phát minh tâm là vậy đó.

Thần thị Thiên, Thần vậy đó mới gọi là có Trời ẩn trong đó. Thần nầy mới gọi là Thần mục tợ điển. Còn Thiên đó là người đời hay kêu là Thiên La Thần, Ðịa La Thần là vậy, vì xem xét không lầm, bao la vũ trụ chẳng vị chẳng tư.

Còn chữ Thiên giả ngã dã, chữ Thiên là xấu (mauvais), chữ Ngã là nghiêng (pencher).

Ðó là nghĩa nói về người đạo. Nếu dùng Thiên Nhãn đặng treo vậy thì trong chỗ ngó xem hành động không y theo lời dạy thì người đó có chỗ thiên là không đúng thiệt nơi lòng. Phật gọi là ngã (tomber) tướng đó. Hễ người đạo mà phạm vào nhơn ngã thì hóa ra là người nương đạo mà lập danh quyền lợi, dầu có treo cũng vô ích. Vậy, con biểu CA nó coi rồi giao lại cho ba Ðầu Sư, Tứ Bửu, Thiên Sư xét cho kỹ, coi cho rành đặng in ra, rồi gởi cho các Chi phái khác đặng rõ lời Thầy dạy đó, mặc may chúng nó có đặng hồi tâm mà tránh cái nạn tu mà lắm mê hoặc đặng biết chơn lý mà theo Thầy thì là nhờ công trong mỗi đứa đó. Thăng.”

4- Ngọc Chưởng Pháp: Thái Lão Sư Trần Ðạo Quang (1870-1946)

 

 

 

(Bỏ Cao-Đài Tây Ninh theo Minh Chơn Lý)

Như trên đã nói: Ông Ca lôi kéo được một số Chức sắc hiệp tác với ông buổi đầu như: Ngài Chưởng Pháp Trần Ðạo Quang,

Ngài Trần Ðạo Quang, thế danh là Trần Văn Quang (có tài liệu chép là Trần Thanh Nhàn) sanh ngày 10-11-Canh Ngọ (dl 31-12-1870) tại Ban Dầy, quận Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho.

Ngài là con trai duy nhứt của ông Trần Chí Hiếu và bà Dương Mỹ Hậu. Hai ông bà làm nghề nông và tu theo đạo Minh Sư, tông Phổ Tế.

Ngài có lòng mộ đạo từ nhỏ. Năm 12 tuổi, Ngài noi theo cha mẹ, tu theo đạo Minh Sư. Năm 16 tuổi, Ngài bắt đầu ăn chay trường. Thái Lão Sư Trần Ðạo Cửu nhận làm thầy đứng ra khai thị cho Ngài.

Năm 21 tuổi, Ngài xuất gia tu hành, bắt đầu tu Nhứt Thừa: Nhứt bộ rồi Nhị bộ và Tam bộ, sau tiến lên tu Nhị Thừa qua bốn bậc: Thiên Ân, Chứng Ân, Dẫn Ân, Bảo Ân; rồi Ngài tiếp tục tu lên Tam Thừa, qua hai bậc:

Ðảnh Hàng: lấy đạo hiệu Trần Vận Quang.

Thập Ðịa là Thái Lão Sư: lấy đạo hiệu là Trần Ðạo Quang. Năm nầy Ngài được 45 tuổi.

Thái Lão Sư Trần Ðạo Quang, được sự tín nhiệm của 12 vị Lão Sư Tông Phổ Tế đạo Minh Sư ở Việt Nam, nên Ngài về trụ trì chùa Linh Quang Tự là Tổ đình của Tông Phổ Tế ở Việt-Nam.

Tổ Sư của Tông Phổ Tế đạo Minh Sư bên Tàu là Thái Lão Sư Trần Ðạo Khánh dự định phong cho Ngài Trần Ðạo Quang làm “Việt Nam Ðệ Nhứt Tổ” của Tông Phổ Tế đạo Minh Sư ở Việt Nam. (Tài liệu của Huệ Nhẫn)

Trong lúc đó thì Lão Sư Nguyễn Văn Tương và Nguyễn Văn Kinh đã được Ðức Chí Tôn độ theo Ðạo Cao Ðài, nên hai Ngài xin lập đàn cơ tại Linh Quang Tự để Ðức Chí Tôn độ Ngài Thái Lão Sư Trần Ðạo Quang luôn thể và Ngài Trần Ðạo Quang được Ðức Chí Tôn độ nên bằng lòng qui hiệp vào Ðạo Cao Ðài.

Khi Ngài Thượng Chưởng Pháp Nguyễn Văn Tương đăng Tiên tại làng Hữu Ðạo quận Cai Lậy thì khoảng hơn một tháng sau, Ðức Chí Tôn phong Ngài Trần Ðạo Quang làm Quyền Thượng Chưởng Pháp ngày 12-12-Bính Dần (dl 15-1-1927). (Theo Ðạo Sử của Bà Nữ Ðầu-Sư Hương Hiếu Q.2 trang 172 và 192)

Ngài Ngọc Chưởng Pháp Trần Văn Thụ đăng Tiên ngày 14-5-Ðinh Mão, thì sau đó ít lâu, Ðức Chí Tôn ân phong Ngài Trần Ðạo Quang làm Ngọc Chưởng Pháp chánh vị.

Trong cơ Ðạo phân chia Chi phái, năm 1931 Phối Sư Thái Ca Thanh rút khỏi Toà-Thánh Tây-Ninh về Mỹ Tho lập phái Minh Chơn Lý, Ngài Ngọc Chưởng Pháp hợp tác với Minh Chơn Lý, sau đó thấy ông Ca và ông Phùng sửa đổi hết cách thờ phượng, nên Ngài rút khỏi Minh Chơn Lý, xuống Bạc Liêu hợp với ông Cao Triều Phát mở ra phái Minh Chơn Ðạo năm 1935.

Năm 1937, Ngài Ngọc Chưởng ra hành đạo ở Ðà Nẵng. Lúc đi ra Trung, Ngài Ngọc Chưởng Pháp không có giấy thuế thân, nên Ngài lấy giấy thuế thân của người trong làng tên là Hà Văn Thuần để xin làm căn cước thì mới được phép ra Trung. Thế nên khi hành đạo ở Ðà Nẵng, Ngài lấy tên là Hà Văn Thuần. Ngài ủng hộ bổn đạo nơi đây xây dựng được Thánh-Thất Trung-Thành, để làm cơ sở hoạt động của Cơ Quan Truyền Giáo Trung Việt.

Ngày 17-2-Bính Tuất (dl 20-3-1946), Ngài Ngọc Chưởng Pháp Trần Ðạo Quang đăng Tiên tại chùa Linh Quang Tự ở Gò Vấp, Gia Ðịnh, hưởng thọ 77 tuổi.

Thi hài của Ngài được an táng tại nghĩa trang Minh Sư gần Linh Quang Tự. Sau nầy, do nhu cầu mở rộng sân bay Tân Sơn Nhứt, Linh Quang Tự và nghĩa trang đều bị giải tỏa, bổn đạo cải táng Ngài về phần đất ở phía sau Thánh Tịnh Minh Kiến Ðài vào ngày 15-8-Kỷ Mùi (1956) thuộc xã Thông Tây Hội, cũng thuộc quận Gò Vấp.

6- Phái Tiên Thiên: Giáo Hữu Ngọc Chính Thanh

(Ông bị trục xuất vào năm 1930).

Phái nầy do ông Giáo-Hữu Ngọc Chính Thanh (Nguyễn Văn Chính) lập ra ở Cai Lậy. Nguyên ông Chính thọ phong Giáo Hữu tại Toà-Thánh Tây-Ninh, nhưng ông không hành đạo, mà lo việc luyện đạo và lập Cơ bút riêng. Ông bị Hội Thánh Tây Ninh cảnh cáo nhiều lần, và cuối cùng thì ông bị trục xuất vào năm 1930.

Năm 1932, Cơ Bút phái Tiên Thiên phong ông Chính làm chức Chưởng Pháp, quí ông Nguyễn Văn Tòng và Lê Kim Tỵ qua hợp tác với ông Chính, thành lập phái Tiên Thiên, lập Tòa Thánh Châu Minh tại làng Sóc Sãi tỉnh Bến Tre.

(Ông Lê Kim Tỵ là một nhà thầu khoán có tài, người có danh vọng lúc bấy giờ, tính tình cương nghị, người Pháp rất kính nể. Khi ban sơ mới mở Ðạo tại Sài Gòn, ông Tỵ có đến hầu đàn, Ngài Nguyễn Trung Hậu phò loan, Ðức Chí Tôn cho ông 4 câu thi rồi viết tiếp: “Tỵ họa bất như tỉnh phi.” [nghĩa là: Tránh họa không bằng xét lại lỗi lầm của mình], Lui. (tức là Ðức Chí Tôn không thâu nhận ông Tỵ làm Môn đệ).

Phái Tiên Thiên dùng Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Tân Luật và Pháp Chánh Truyền như Tòa Thánh Tây Ninh, nhưng Chức sắc không chia ra Thái, Thượng, Ngọc, chỉ mặc đạo phục toàn trắng, đầu đội khăn đóng trắng.

Nhờ tài thầu khoán của ông Lê Kim Tỵ, ông xây dựng được 72 Thánh Tịnh (Thất thập nhị Thánh Tịnh) trong khắp các tỉnh ở miền Nam cho phái Tiên Thiên.

Hội Thánh Tiên Thiên cũng có hai đài: Hiệp-Thiên Ðài và Cửu Trùng Ðài nhưng cầm đầu lại do Thất Thánh, có Thất Hiền phụ tá.

Thất Thánh gồm 7 ông: Phan Văn Tòng, Nguyễn Văn Chính, Nguyễn Thế Hiển, Lê Kim Tỵ, Trần Lợi, Nguyễn Bửu Tài, Nguyễn Tấn Hoài.

Thất Hiền gồm 7 ông: Lê Thành Thân, Nguyễn Phú Thứ, Lâm Quang Tỷ, Ðoàn Văn Chiêu, Phan Lương Hiền, Trương Như Mầu, Phan Bá Phước. Dự khuyết: Phan Thanh.

Cũng trong thời gian nầy, phái Tiên Thiên lập Trước Tiết Tàng Thơ, chủ tịnh là ông Trương Duy Toản. Ông Trần Văn Quế thì hiệp với đồng tử Liên Hoa (Ðàm Thi) lập nhiều Thánh Tịnh khác như: Trước Lý Minh Ðài ở Gia Ðịnh, Ngọc Minh Ðài ở Bà Ðiểm, Ngọc Tuyển Thánh Tịnh ở Long Thành, Biên Hòa.

Sau đó Cơ Bút phái Tiên Thiên dạy thành lập Cao Ðài Ðại Ðạo Liên Ðoàn, qui tụ một số Chức sắc kỳ cựu trong Ðạo và một số trí thức trong mục tiêu hiệp nhứt các Chi phái, làm cho phái Tiên Thiên bắt đầu xuống dốc và có nguy cơ tan rã.

Ngài Nguyễn Bửu Tài, được Cơ bút Tiên Thiên phong chức Ðầu Sư Thượng Tài Thanh, lãnh đạo 65 vị Chức sắc Tiên Thiên qui hiệp về Tòa Thánh Tây Ninh, được Ðức Lý Giáo-Tông giáng cơ chấp thuận ngày 29-6-1949, tạm thời giáng nhứt cấp tất cả các vị nên Ngài Nguyễn Bửu Tài là Phối Sư Thượng Tài Thanh và Ðức Lý hứa, khi nào đem hết tất cả Chức sắc và bổn đạo của phái Tiên Thiên qui hiệp về Tòa Thánh Tây Ninh thì Ðức Lý sẽ phong cho chức cũ.

Hai năm sau, Ngài Nguyễn Ngọc Tương Giáo-Tông phái Bến Tre qui liễu, Ngài Nguyễn Bửu Tài lại tách rời Tòa Thánh Tây Ninh trở về Sóc Sãi Bến Tre, tái lập phái Tiên Thiên và sau đó Cơ bút Tiên Thiên phong Ngài Nguyễn Bửu Tài lên chức Giáo-Tông ngày 9-1-1957.

Sự kiện có tính cách vĩ đại nầy của phái Tiên Thiên không được các Chi phái khác quan tâm vì phái Tiên Thiên lúc bấy giờ không có thực lực đáng kể, số tín đồ còn lại rất ít, số Chức sắc thì lại nhiều hơn.

Tiểu sử Ông Nguyễn Bửu Tài phái Tiên Thiên:

Ông Nguyễn Bửu Tài sanh năm 1882 tại làng Chẹt Sậy, sau đổi tên là làng Phú Hưng, tỉnh Bến Tre. Ngài theo tân học nhưng cũng rất giỏi Hán học, làm Giáo viên tại Bến Tre, được thăng lên Thanh Tra Tiểu Học, sau lại đổi lên Biên Hòa.

Năm 1926, ông Nguyễn Bửu Tài lập một phái tu đơn tại Chẹt Sậy, Tịnh Thất được đặt tên là Tây Tông Vô Cực Cung.

Năm 1941, ông có liên lạc với Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể ở Nhựt, nên bị Pháp bắt đày đi Côn Ðảo 5 năm.

Ngày 25-8-1945, Chánh phủ Trần Trọng Kim ân xá, ông Tài được trả tự do, ông trở về quê tiếp tục tu đơn.

Sau đó ông gia nhập phái Tiên Thiên, được cơ bút phong Thượng Ðầu Sư, trở thành Chức sắc lãnh đạo phái Tiên Thiên.

Một số lớn Chức sắc cao cấp của phái Tiên Thiên nhập qua các phong trào Thống Nhứt Chi phái, làm cho phái Tiên Thiên suy yếu. Do đó, ông Nguyễn Bửu Tài cùng một số Chức sắc Tiên Thiên cấp dưới qui hiệp về Tòa Thánh Tây Ninh, được Ðức Lý Giáo-Tông giáng cơ chấp thuận trong đàn cơ đêm 1-3-Mậu Tý (dl 9-4-1948), và Ðức Hộ-Pháp ra Thánh Lịnh số 535 ngày 4-6-Kỷ Sửu (dl 29-6-1949) thi hành quyết định của Ðức Lý Giáo-Tông.

Ngày 27-5-Canh Dần (dl 11-7-1950), theo lời dạy của Ðức Lý Giáo-Tông đêm 3-1-Canh Dần, Ðức Phạm Hộ-Pháp ký Thánh Lịnh số 302, chư Chức sắc phái Tiên Thiên có danh sách trong Thông qui ngày 30-10-Kỷ Sửu, đã đệ trình lên Ðức Lý Giáo-Tông xem xét, được Ðức Lý tạm phong vào hàng Chức sắc Tòa Thánh Tây Ninh, sụt bớt một cấp, như sau đây:

- Phối Sư Thượng Tài Thanh (Nguyễn Bửu Tài)

- Phối Sư Thượng Hiền Thanh (Phan Lương Hiền)

- Giáo Sư Ngọc Thiệu Thanh (Phan Lương Thiệu)

- Giáo Sư Ngọc Dừng Thanh (Ðinh Văn Dừng)

- Giáo Sư Thượng Tấu Thanh (Trần Văn Tấu)

Phần tiếp theo là danh sách 26 Giáo Hữu và 35 Lễ Sanh.

Tổng cộng: 66 vị Chức sắc, không ai là Ðạo hữu cả.

Ngày 23-12-Canh Dần (dl 30-1-1951) Ðức Phạm Hộ-Pháp lại ký Thánh Lịnh phong thêm 5 vị Giáo Sư, 3 Giáo Hữu và 17 Lễ Sanh.

Cả thảy Chức sắc phái Tiên Thiên được Ðức Lý Giáo-Tông tạm phong do cơ bút tại Tòa Thánh Tây Ninh, phải hành sự tùng quyền Ngọc Chánh Phối Sư, Chủ trưởng Chức sắc.

Giữa năm 1951, ông Nguyễn Ngọc Tương Giáo-Tông phái Bến Tre qui liễu tại Thánh Thất An Hội Bến Tre.

Sau đó, ông Nguyễn Bửu Tài và số Chức sắc Tiên Thiên đã qui hiệp về Toà-Thánh Tây-Ninh trước đây, âm thầm tự ý rút lui khỏi Tây Ninh, trở về Sóc Sãi tỉnh Bến Tre tái lập phái Tiên Thiên, lập Tòa Thánh Châu Minh và Hội Thánh Tiên Thiên.

Ngày 13-8-1955, cơ bút phái Tiên Thiên phong ông Nguyễn Bửu Tài lên chức Thượng Chưởng Pháp.

Ngày 9-1-1957, ông Nguyễn Bửu Tài được tấn phong Quyền Giáo-Tông phái Tiên Thiên.

Ngày 9-1-1958, tức là đúng 1 năm sau, cơ bút phong ông Nguyễn Bửu Tài lên chức Giáo-Tông chánh vị phái Tiên Thiên.

Ngày 21-9-Mậu Tuất (dl 1-11-1958), ông Nguyễn Bửu Tài qui liễu, bửu tháp của ông được xây tại Tòa Thánh Châu Minh ở Sóc Sãi, Bến Tre.

Vậy ở Bến Tre, trước sau có hai vị Giáo-Tông Chi phái: Nguyễn Ngọc Tương và Nguyễn Bửu Tài.

CUỘC THỬ CƠ của PHÁI TIÊN THIÊN
Về Toà-Thánh Tây ninh

Phò loan: Luật Sự Nhung - Hưởng.

Thừa Sử: Nguyễn Văn Kiết.

Hầu đàn: Chức sắc CTÐ, HTÐ,

Sĩ quan cao cấp, Chức sắc Tiên Thiên và đồng tử Thanh Trước Ðàn, Tiền Phong Hội Quán, ngã 5,

Tòa Thánh TN, lúc 21g30 Ðêm 4-2-Tân Mão (11-3-51).

LÝ GIÁO-TÔNG

“Chào con cái Chí Tôn.

Thượng Tài Thanh, Hiền hữu có biết chăng Ðạo Thầy có một.?

Khai Pháp Hiền hữu chấp bút nhang đuổi nó đi, vì đây trước mặt Lão lại còn cho Thần Cái trụ.

Thượng Tài Thanh, hỏi một Hội Thánh có mấy Ðài Hiệp Thiên và mấy Ðài Cửu Trùng?

Chính tay Lão đã lập Ðạo Nghị Ðịnh thứ 8, có đâu Lão lại phá luật; còn Ðài Hiệp Thiên do Hộ-Pháp nắm giữ, có đâu Lão lại quá quyền phạm pháp, phong tước Chưởng quản Hiệp-thiên-Đài, Hiền hữu vốn biết Lão đương quyền Giáo-Tông đó chớ ?

Cơ chia phe phân phái cũng do đó có phải?

Nè Lão cho hay rằng: Hội Nhơn Sanh sắp đến đó, thử hỏi Chức sắc và tín đồ về đặng bao nhiêu?

Hiền hữu khá nhớ rằng: được phẩm thì dễ, chớ ngồi yên khó lắm, sự không qui thuận của Chức sắc và tín đồ Tiên Thiên là lỗi nơi Hiền hữu, chớ không phải nơi họ.

Từ đây, Hiền hữu cứ ra nghiêm lịnh coi. Nên nhớ rằng: với tình thì Lão dung thứ được, chớ về luật pháp e khó dung tha được.

Cao Sĩ Tấn! Lão biết Hiền hữu có ý bất mãn, nhưng Lão khuyên Hiền hữu khá suy nghĩ sẽ thấy rõ đường đi.

Ðức Chí Tôn khai Ðạo chẳng bó buộc một ai hết thảy, nếu ngoan là con của Thầy, còn dại thì mặc tình quỉ dẫn. Những cặp đồng tử của Hiền hữu, tuy vốn xuất thần, nhưng bị hồi điển do bổn thân. Hiền hữu khá đem họ nhờ sự trau luyện của Hiệp-thiên Đài Chức sắc thì sẽ được ứng dụng ngày sau. Hiền hữu thử hỏi lại chúng nó coi: trước đêm mùng 4 vừa qua nó có suy nghĩ gì chăng?

Thượng Tài Thanh, Hiền hữu hiểu lời Lão rồi chớ?

Bảo Thế, Khai Pháp, Tiếp Ðạo, sáng ngày mai phải xuống Trí Huệ Cung tường thuật cặn kẽ cho Hộ-Pháp nghe. Còn hai em Hưởng và Nhung, Lão khen đó, hai em đã giúp Lão chỉnh đốn Cửu Trùng Đài nhiều lắm đó, Lão mang ơn nơi cõi Hư linh, còn hữu hình Lão chẳng có quyền.” Thăng.

Tái cầu: Lúc 23 giờ.

THƯỢNG TRUNG NHỰT

“Qua chào mấy em. Cười !

Ông Già nộ khí dữ quá ta! Lúc nãy đồng tử của họ có một người tà tâm nên Ổng đánh nó đó.

Bạch:

- Không sao, tuy vậy chớ Thượng Tài Thanh và Cao Sĩ Tấn biết suy nghĩ lắm, họ bị quá mê tín mà nên nông nỗi. Cười . . . Coi chừng đồng tử bị đánh, bịnh ta ơi!

Tội nghiệp, không phải tự họ muốn lên giả, nhưng tại Thần trược mà bị hồi điển. Những người đồng tử họ bất bình, họ nói mình xúm nhau mà làm ngưng nghề họ, chớ không phải là Ðức Lý. Cười .. Mặc dầu lúc nãy, Ông Già đã nói trước rồi.

Còn KHOA thì coi hình như đeo muốn rớt.

Em Trung Dõng nên gần gũi dẫn dụ họ, nếu họ có ức thì xin với Ðức Hộ-Pháp, Ðức Hộ-Pháp phò loan tại Trí Huệ Cung một lần nữa, nhưng không cho đồng tử theo vì có hại cho họ.

Cười . . . Cần cơ gãy . . . Cười . . .

Anh nói thiệt, nếu cơ không gãy thì e cho họ phát điên rồi mà chớ. Ðó cũng may cho họ vì đầu cơ không có điển, hành pháp không xuất được. Thôi cũng yên một phần, em Trung Dõng cười đi em.” Thăng.

Chú thích:
(KHOA: Ngài Hồ Tấn Khoa, lúc đó chưa được phong chức Bảo Ðạo.
TRUNG DÕNG: hiệu của Trung Tướng Nguyễn Văn Thành).

7- Phái Minh Chơn Ðạo

Phái nầy do ba Ngài:

1- Chưởng Pháp Trần Ðạo Quang,

2- Cao Triều Phát và

3- Nguyễn Ngọc Thiệu,

Tách khỏi phái Minh Chơn Lý (vì thấy hai ông Ca và Phùng biến cải theo Tà đạo), qui tụ về Giá Rai tỉnh Bạc Liêu, lập ra phái Minh Chơn Ðạo vào năm 1935. Lúc đầu trụ sở đặt tại Chùa Minh Sư của Ngài Trần Ðạo Quang tại Giá Rai, sau mới lập Tòa Thánh Ngọc Minh ở Giồng Bướm Giá Rai, cũng gọi là Tòa Thánh Hậu Giang. Gần Tòa Thánh nầy có Ngũ Hành Tòa để làm Hiệp-Thiên-Ðài. Phái nầy hoạt động khá mạnh, lên tới tỉnh Vĩnh Long.

Phái Minh Chơn Ðạo giữ đúng theo Tân Luật, Pháp Chánh Truyền và lễ nghi của Ðạo buổi sơ khai. Phái nầy không luyện đạo, mặc dầu Ngài Trần Ðạo Quang, trước khi gia nhập Ðạo Cao Ðài, Ngài là Thái Lão Sư cầm đầu Chi Minh Sư ở Việt-Nam. Ngài Trần Ðạo Quang được phong chức Chưởng quản Vô Vi Chưởng quản Cửu-Trùng Ðài, Ngài Cao Triều Phát chức Thái Chưởng Pháp Chưởng quản Hiệp Thiên Ðài, Ngài Nguyễn Ngọc Thiệu chức Ðầu Sư Ngọc Thiệu Nhựt. Sau nầy, Ngài Cao Triều Phát lại tách ra, ông Nguyễn Văn Kiện tự Huân được phong chức Hộ-Pháp Thiên Ấn Tinh Quân, chưởng quản Hiệp Thiên Ðài.

Cơ bút của phái Minh Chơn Ðạo phong gần đủ các phẩm Chức sắc cao cấp Hiệp Thiên Ðài và Cửu Trùng Đài, như: Hộ-Pháp, Thượng-Phẩm, Thượng-Sanh, 9 vị Thời Quân, 2 vị Chưởng Pháp, 7 vị Ðầu Sư, 3 Chánh Phối Sư (không có phẩm Giáo-Tông, bên Cửu Trùng Đài thì chức Chưởng quản Vô Vi là cao nhứt).

Sau cuộc đảo chánh của Nhựt Bổn, quân đội Pháp trở lại dùng phi cơ dội bom, trúng Tòa Thánh Ngọc Minh tan tành. Ngài Cao Triều Phát hợp tác với Việt Minh để bảo vệ tín đồ. Sau Hiệp Ðịnh Genève 1954, Ngài Cao Triều Phát tập kết ra Bắc và qui liễu tại đó trong năm sau.

8- Hai vị Quyền Đầu-Sư tách ra lập Chi Phái Bên Tre

-Quyền Đầu-Sư Thượng Tương Thanh,

-Quyền Đầu-Sư Ngọc Trang Thanh

   

Nhóm Nguyễn Phan Long mở Hội Vạn Linh xét xử tội trạng Đức Quyền Giáo-Tông Lê Văn Trung và Đức Hộ-Pháp Phạm Công Tắc.

Ngày 19-5-Quý Dậu (Thứ ba:11-7-1933)

Thực dân Pháp kết hợp với triều đình nhà Nguyễn ở Huế và được sự nội ứng của Phối Sư Ngọc Trang Thanh (Tri phủ Lê Bá Trang) đưa nhà chính trị Nguyễn Phan Long về Toà-Thánh Tây-Ninh qui tụ tất cả Chức sắc, chức việc, đạo hữu trên toàn quốc họp về mở “Đại hội vạn linh” họp giữa chánh điện trong Đền-Thánh để xét xử tội trạng Đức Quyền Giáo-Tông Lê Văn Trung và Đức Hộ-Pháp Phạm Công Tắc.

Ông Nguyễn Phan Long là người không có Đạo Cao Đài, hôm ấy người ông đầu trần, mặc áo sơ-mi trắng ngắn tay, quần sọt (ngắn) trắng, bỏ áo trong quần, giày ba ta trắng, ngồi ghế Nghị trưởng chủ toạ đại hội vạn linh; còn Chức sắc, Chức việc mặc đại phục (áo mão chỉnh tề) ngồi theo thứ bậc.

Sau những nghi thức khai mạc, Ngọc chánh Phối Sư Ngọc Trang Thanh (Tri phủ Lê Bá Trang) chủ trưởng Chức sắc Cửu Trùng Đài Nam phái ra trước Đại hội giới thiệu ba chồng hồ sơ:

1- Đây là những bài báo tường thuật những sai trái của hai ông Lê Văn Trung và Phạm Công Tắc.

2- Còn đây là những thư tố cáo tội trạng cũng của hai ông Lê Văn Trung và Phạm Công Tắc.

3- Còn đây là những văn bản cật vấn hai ông Lê Văn Trung và Phạm Công Tắc của Đạo và Đời về sở hành của hai ông.

Ông Nguyễn Phan Long Nghị trưởng chủ toạ đại hội vạn linh phát biểu:

- Đề nghị mời hai đương sự ra trước đại hội để trả lời chất vấn của đại hội (Tờ Vi bằng 36 trang đánh máy có kèm theo ở phần phụ lục. Cuối sách)

Cả đại hội đồng ý, cử người đến Giáo-Tông-Đường và Hộ-Pháp-Đường mời Đức Quyền Giáo-Tông và Đức Hộ-Pháp.

Hai Ngài rất bình thản, vui vẻ và giải thích cho những vị đến mời nói cho nghe rằng:

- Khi chúng ta nhập môn cầu Đạo đã Minh thệ rằng: “Hiệp đồng chư Môn đệ gìn luật lệ Cao-Đài” mà theo Tân Luật của Đạo Cao Đài, chương VII, về hình phạt, điều thứ 29 “Chư Chức sắc ai có phạm Luật pháp trong Đạo thì đem ra trước Toà Tam giáo phân xử” và “Toà Tam giáo có Đức Giáo-Tông làm đầu, ba vị Chưởng Pháp nghị án, vị Đầu-Sư phái mình về phần dâng biểu buộc tội. Một Chức sắc Hiệp-Thiên-Đài làm Trạng sư.

Chư Hiền hữu về nói lại với quí vị ấy muốn xử tội Đức Quyền Giáo-Tông và Bần Đạo hãy tiến hành đúng theo luật lệ Cao-Đài thì Đức Quyền Giáo-Tông và Bần Đạo sẽ đến dự.”

Những kẻ đi mời về không tường thuật đầy đủ lời phát biểu của Đức Ngài, chỉ nói vắn tắt: “Đức Quyền Giáo-Tông và Đức Hộ-Pháp không đến dự.”

Nguyễn Phan Long Nghị trưởng chủ toạ đại hội vạn lịnh phán quyết rằng:

- Vậy thì chúng ta xử khiếm diện.

Họ đọc hết chồng báo bịa đặt vu-khống, tố cáo nặc danh, văn bản cật vấn vô căn cứ (mất trọn một ngày).

Ngày hôm sau tiếp tục đại hội:

Bà Phối-Sư Hồ-Hương-Lự (Bà mẹ của Đức Thượng-Sanh) mặc đại phục vào Cung Đạo Đền Thánh bái lễ xong, Bà đi thẳng đến bàn chủ toạ hỏi ông Nguyễn Phan Long:

- Ông chưa nhập môn vô Đạo Cao-Đài, Ông chưa phải là Tín đồ Cao-Đài, vậy ông lấy tư cách gì mà làm chủ toạ cái đại hội này? Căn cứ vào luật lệ nào mà ông xử tội Đức Quyền Giáo-Tông và Đức Hộ-Pháp? Hơn nữa toàn thể Chức sắc, Chức việc và Đạo hữu đều có mặc áo chỉnh tề; còn ông đầu trần, mặc quần cụt ngồi giữa Bửu Điện Đền Thánh Cao-Đài có vô lễ lắm không?

Ông Nguyễn Phan Long lúng túng đáp:

- Tôi là nhà báo đến đây dự đại hội, vì không có ai xứng đáng làm chủ toạ, đại hội tín nhiệm tôi, bầu tôi làm Nghị trưởng chủ toạ đại hội vạn linh nầy.

Bà Phối-Sư Hồ-Hương-Lự nhìn xuống Hội trường to tiếng cật vấn:

- Chư Hiền huynh, Hiền Tỷ là Chức sắc Đại Thiên phong, vậy chư vị dựa vào điều khoản nào trong Pháp Chánh Truyền và Tân Luật mà bầu một người không phải là Tín đồ Cao-Đài (ngoại Đạo) làm chủ toạ đại hội của Đạo để xử tội Đức Quyền Giáo-Tông và Đức Hộ-Pháp

Không một ai trả lời được câu hỏi của Bà Phối-Sư Hồ-Hương-Lự, bỗng có Luật sư Diệp văn Kỳ đến phát biểu

- Tôi thay mặt Đức Hộ-Pháp Phạm Công Tắc đến thông báo với quí ông bà rằng:

“Trong Đạo Cao-Đài: quyết nghị của Đại hội nhơn sanh, quyết nghị của Đại hội Hội Thánh và quyết nghị của Thượng Hội hợp nhứt lại là Quyền Vạn Linh, chứ không hề có “đại hội vạn linh”. Buổi họp của quí ông bà đây là ngoài chơn truyền luật pháp Cao-Đài."

Bà Phối-sư dậm chân thét lên:

- “Đức Chí-Tôn ơi! Quỉ Vương phá Đạo đây nè!”.

Bấy giờ như ong vỡ tổ, tất cả mọi người lật đật cuốn áo mão bỏ hội trường ra về.

Thế là cái gọi là “Đại hội Vạn linh” của các nhóm phá Đạo tự nhiên rút lui êm không trật tự.

Thực dân Pháp gây áp lực và bắt buôc khiến cho:

- Tri phủ Ngô văn Chiêu lập Chi phái Chiếu Minh.

- Tri phủ Vương Quan Kỳ và Đốc học Đoàn văn Bản lập phái Cầu Kho.

- Tri phủ Nguyễn văn Ca lập phái Minh-Chơn-Lý.

- Chính khách Nguyễn Phan Long họp đại hội vạn linh truất phế Đức Quyền Giáo-Tông và Đức Hộ-Pháp.

Tất cả đều không đạt thành nguyện vọng và mục đích , chỉ vì không hiểu pháp luật của Đại Đạo.

1- Thực dân Pháp bắt đầu lưu ý đến luật pháp Đạo:

Nhất là Pháp-Chánh-Truyền là do chính Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế đến lập: Về luật công cử Chức sắc Cửu Trùng Đài đã có ghi rõ:

- Phối Sư muốn lên Đầu-Sư thì phải có đủ ba mươi sáu vị Phối Sư xúm nhau công cử. Hiện tại Phối Sư chưa đủ 36 vị nên không thể công cử theo Pháp chánh truyền, do đó khi vị Đầu-Sư Thái-Minh-Tinh (Hoà-Thượng Thiện Minh) bị áp lực của thực dân Pháp và Phật giáo nên đã phế phận (không hành Đạo), còn vị Đầu-Sư Ngọc Lịch Nguyệt say mê luyện Đạo, cũng không hành đạo nữa. Chỉ còn lại có vị Thượng Đầu-Sư Thượng Trung Nhựt mà thôi.

Ngày 06-02 Nhâm-Thân (Thứ bảy 12-3-1932) Ngài Đầu-Sư Thượng Trung Nhựt được quyền thiêng liêng thăng lên phẩm Quyền Giáo-Tông Lê-Văn Trung, do đó hàng phẩm Đầu-Sư hoàn toàn bị khuyết.

Quyền hành này tức nhiên Giáo-Tông và Hộ-Pháp hiệp một là quyền Chí-Tôn tại thế, cho nên các Ngài hiệp lại chỉ định ba vị làm Quyền Đầu-Sư là:

- Thái Chánh Phối Sư Thái Thơ Thanh hành quyền Thái Đầu-Sư.

- Thượng Chánh Phối Sư Thượng Tương Thanh hành quyền Thượng Đầu-Sư.

- Ngọc Chánh Phối Sư Ngọc Trang Thanh hành quyền Ngọc Đầu-Sư.

Bấy giờ trong Đạo đã có đủ ba vị Quyền Đầu-Sư rồi.

2-Thực dân Pháp hậu thuẫn và hỗ trợ phái Minh Chơn lý của Tri phủ Nguyễn văn Ca:

Đồng thời họ truyền lịnh cho nhóm bồi bút phát động cao trào viết sách, làm báo để tấn công hầu đả phá Đạo Cao-Đài và hạ bệ hai Đấng đầu công bậc nhất của Đạo là Đức Quyền Giáo-Tông và Đức Hộ-Pháp.

Khi chiến dịch Cao-Đài Minh-Chơn-lý và nhóm người bồi bút đã đạt mức cao điểm, thì ba vị Quyền Đầu sư công bố:

“Nền Đạo đang gặp cơn nguy biến nên ba vị Quyền Đầu-Sư phải dùng QUYỀN THỐNG NHỨT điều hành Hội Thánh đúng theo Pháp Chánh Truyền qui định.

Quyền Thống Nhứt: “Khi Minh thệ rồi, Đầu-Sư đặng cầm quyền luôn cả về Chánh trị và Luật lệ.

Nhờ quyền lớn lao này Đầu-Sư sẽ có đủ thệ lực mà ngăn ngừa tà quyền hại Đạo. Thảng gặp cơn nguy biến mà ba Chánh Phối Sư không đủ sức chống ngăn, thì Đầu-Sư đặng dùng quyền Thống nhứt ấy mà điều khiển Hội Thánh. Cả Chức sắc Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài phải phục mạng, dầu cho Giáo-Tông và Hộ-Pháp cũng phải vậy.” (Hay! Ấy là lời khen của Đức Lý).

Là một con dao hai lưỡi. Nguy hiểm thật!

Nhưng đấy là chước quỉ “dùng gậy ông đập lưng ông” vô phương cứu chữa!

Lúc bấy giờ ba vị Quyền Đầu-Sư căn cứ vào Pháp Chánh Truyền dùng quyền Thống nhứt của ba Quyền Đầu-Sư thỉnh cầu Đức Quyền Giáo-Tông, Đức Hộ-Pháp và Đức Thượng-Phẩm ra trước Hội Thánh lưỡng đài giải trình sự việc. Phái Cao-Đài Minh Chơn lý và nhóm Nguyễn Phan Long đã làm cho dư luận xôn xao đối với nền Đạo và nhất là thanh danh của ba Ngài, nhưng các Ngài xem như sự việc bình thường không cần giải thích.

Luật pháp đã rõ ràng người chưa hiểu hãy kiếm chơn lý mà hiểu, người đã lầm phải sớm thức tỉnh trong kiếp sanh này, nếu không thì khi thoát xác phải đến Đại Hải chúng mà hối ngộ thì quá muộn rồi!

3- Thực dân Pháp hậu thuẫn và hỗ trợ phái Cầu kho nhập cuộc chống đối Toà-Thánh:

Ba Ngài cũng không giải trình sự việc trước Hội Thánh lưỡng Đài và cũng không cần giải thích lý do.

Những nhóm này vẫn ngầm khích động, lôi kéo được thêm phái Cầu Kho nhập cuộc, tham dự vào cao trào chống đối Đạo Cao-Đài Toà Thánh Tây Ninh.

Qua 15 tháng 7 năm Mậu Thìn (Thứ Tư:29-8-1928)

Nhóm của Nguyễn Phát Trước (Bí danh Tư Mắt) là trùm du đãng Sài-gòn, Chợ-lớn đem hàng ngàn côn đồ về Toà Thánh Tây Ninh dùng võ lực trực tiếp đối với Đạo Cao-Đài..

Ba vị Quyền Đầu-Sư của Cao-Đài Toà-Thánh Tây ninh liền họp với phái Cầu kho, phái Minh Chơn lý, nhóm của Nguyễn Phan Long và nhóm du đãng của Tư Mắt soạn một bản văn “Tối hậu thư” bắt buộc:

- Đức Quyền Giáo-Tông Lê văn Trung.

- Đức Hộ-Pháp Phạm Công-Tắc.

- Đức Thượng-Phẩm Cao Quỳnh Cư

Mỗi người phải tự viết :Tờ nhận tội, Tờ từ chức, Tờ cam đoan không trở lại Thánh Địa Tây ninh. Nếu không tuân sẽ bắt trói ngoài rừng cho cọp xé xác ăn thịt.

Ba Ngài cùng nhận định: Cả một cuộc đời các Ngài không làm một điều gì trái với đạo lý, chưa làm một điều gì thất nhơn tâm, nếu không nói là có công thì cũng không kể là có tội được, nên ba Ngài cương quyết không nhận. Vì rằng Đức Thượng Đế đã ban cho các Ngài phẩm tước thiêng liêng này để hành Đạo: chuyển thế và cứu thế, nay phận sự chưa rồi thì không thể từ chức.

Còn việc không trở lại Toà Thánh thì dầu rằng bất cứ nơi nào cũng Phổ độ chúng sanh, cũng Hoằng khai Đại Đạo được. Nghĩ vậy Đức Hộ-Pháp rời Thánh Địa và xuống Từ-Vân-Tự ở Túc Trưng (Thủ đức). Đức Thượng-Phẩm thì về Thảo xá Hiền cung ở Tây-ninh.

Chỉ riêng Đức Quyền Giáo-Tông, Ngài nói rằng Đức Thượng-Đế giao cho Ngài làm Anh Cả nhơn sanh và lãnh đạo cả cơ nghiệp Đại-Đạo nơi thế gian này, Ngài quyết không tham sống sợ chết. Nhất định ở lại Toà Thánh Tây ninh này, ung dung ở lại Giáo-Tông-đường chờ lũ Quỉ dữ đến.

Trong khi đó thành phần đối lập tự mạo nhận viết Tờ nhận tội, chịu từ chức, cam đoan không trở lại Toà Thánh, xong rồi đưa vào Giáo-Tông Đường bắt buộc Đức Ngài ký tên. Chúng hẹn sau 24 giờ đồng hồ mà Ngài không ký thì sẽ cho các lực lượng côn đồ (nhóm du đãng của Tư Mắt) sẽ tấn công vào Giáo-Tông-đường giết chết Ngài. Bên ngoài hàng ngàn tên du đãng đang chờ lịnh!

Được hung tin ấy, Bà Nữ Chánh Phối Sư Lâm Hương Thanh ở Vũng Liêm (Vĩnh Long) chạy xe từ Vĩnh long qua Từ-Vân-Tự gặp Đức Hộ-Pháp, được Đức Ngài cho xem Thánh giáo của Đức Chí-Tôn. Bà rời Từ-Vân-tự về Toà Thánh. Đến nơi chỉ còn 45 phút nữa. Bà đến gặp ba vị Quyền Đầu-Sư, Bà nói:

- Chuyện đâu còn có đó, thiếu gì cách giải quyết, cần gì phải dùng bạo lực? Thầy đã bảo “Dạy lẫn cho nhau đặng chữ hoà” Các anh không nhớ sao? Các anh dùng bạo lực giết chết Anh Cả Lê Văn Trung thì đồng Đạo sẽ nghĩ gì về các Anh? Đời sẽ nhìn vào hành động của các anh mà đánh giá Đạo như thế nào? Nếu các anh muốn cho Anh Cả nghỉ hành Đạo thì để tôi vào Giáo-Tông-Đường khuyên Anh Cả.

(Cái khó cho nhóm người dã tâm này là còn có mặt Ngài Quyền Đầu-Sư Thái Thơ Thanh là bạn đời của Bà Lâm Ngọc Thanh, mặc dù ông Thơ cũng đang bị cưỡng chế, nhưng nếu Ông rút khỏi Quyền Thống nhứt của ba Đầu-Sư, thì quyền ấy cũng tan rã, không còn hiệu lực).

Thế nên nhóm đối lập của ông Trang và ông Tương cầm đầu, đồng ý để cho Bà Chánh Phối-sư Lâm Hương Thanh vào Giáo-Tông-đường gặp Đức Quyền Giáo-Tông Lê-Văn-Trung. Khoản 30 phút trôi qua, Bà Lâm Hương Thanh từ trong Giáo-Tông-Đường đi ra, tay cầm tờ giấy phất phất lên ra hiệu là Đức Quyền Giáo-Tông đã nhận chịu tất cả rồi, Bà ra lịnh cho Bảo thể và nhóm côn đồ của Nguyễn Phát Trước (Tu Mắt) giải tán, Bà nói:

- Còn mấy chú này giải tán đi, Anh Cả đã đồng ý nghỉ rồi!

Bà trao tấm giấy cho Quyền Thái Đầu-Sư Thái Thơ Thanh, rồi tự lái xe Traction 15 Normal vào tận cửa Giáo-Tông-Đường rước Đức Quyền Giáo-Tông Lê-Văn-Trung ra thẳng cửa số 1 (Hoà viện) về làng Long thành, quận Châu thành, Tỉnh Tây ninh, lập Từ bi thôn tu tại gia..

Văn bản tự tay Đức Quyền Giáo-Tông Lê Văn Trung viết ngắn gọn:

“Từ khi Đức Chí-Tôn giao cho lèo lái thuyền Đạo. tôi đã Đông xông Tây đột, Nam Bắc tảo trừ, quên ăn, quên ngủ. Nay tôi tuổi cao, sức yếu, bệnh hoạn. Tôi trao quyền cho các Em tôi:

- Hộ-Pháp Phạm Công Tắc.

- Thái Thơ Thanh.

- Thượng Tương Thanh.

- Ngọc Trang Thanh

Điều khiển nền Đạo khi tôi nghỉ dưỡng bịnh.

Quyền Giáo-Tông Lê văn Trung

(Thượng Trung Nhựt)

4- Quyền Đầu-Sư Thượng Tương Thanh và Ngọc Trang Thanh nắm trọn quyền hành:

Bấy giờ hai ông Quyền Đầu-Sư Thượng Tương Thanh và Ngọc Trang Thanh nắm trọn quyền hành trong Đạo. Mặc tình bổ nhiệm các tay thuộc hạ vào những chức vụ trọng yếu trong Đạo. Thăng phẩm vị cho Chức sắc đàn em. Chuẩn bị nhân sự bổ đi làm Đầu họ đạo, Đầu tỉnh đạo ở địa phương.

Đức Hộ-Pháp ở nơi Thủ Đức theo sự hướng dẫn của Thất nương Diêu Trì Cung, phò Cơ giúp đồng bào xin toa thuốc hoặc tìm hiểu cõi vô hình. Đồng bào ngày một đến rất đông.

Thuở đó ở Mỹ tho có một nhóm cầu Cơ để xướng hoạ thơ văn với cõi vô hình. Mỗi lần tổ chức cầu Cơ thì ngọn đèn nơi bàn cầu Cơ có ống khói loáng màu đỏ nên gọi là Hồng đăng đàn. Ở Cai-lậy, Cái Bè, Mỹ tho cũng có một nhóm cầu cơ như vậy nhưng ống khói đèn nơi bàn cầu Cơ lại loáng màu trắng, gọi là bạch-đăng-đàn. Hai nhóm này thường trao đổi những bài Thánh giáo nhận được cho nhau xem, để xem nhóm nào nhận được bài của các Đấng cao trọng hơn.

Một hôm, một vị Đại Tiên trong nhóm Bạch-đăng đàn dạy các vị này lên Từ-Vân-Tự ở Túc Trưng Thủ-Đức rước Đức Hộ-Pháp Phạm Công Tắc về đây và tất cả phải tùng theo sự chỉ dạy của Đức Ngài. Đồng thời khi ấy nhóm Hồng đăng đàn cũng được dạy y như vậy.

5- Đức Hộ-Pháp làm phận sự của Chí-Tôn giao phó là lập Phạm Môn:

Đức Ngài nói:

“Chỉ Qua biết phận sự của Qua là Đại-Từ Phụ giao phó với một lời yếu thiết như thế này:

- Tắc, đời quá khổ chẳng phải khổ về xác thịt mà thôi, mà lại khổ đến tinh thần nữa, nạn của nhơn loại tương tàn tương sát sắp đến. Thầy giao cho con một cây Cờ Cứu Khổ, chẳng phải cứu khổ tinh thần mà thôi, lại lẫn cả thể xác nữa. Trọng hệ hơn hết là điều ấy Thầy giao phó cho con, nhưng mà con phải hiểu: có khổ về tinh thần mới biến sanh ra khổ của thể xác.

Thầy nói rõ Thầy giao cho một gánh Đạo và Đời. Thực sự ra Bần Đạo xin thú thật, gánh của Đạo chẳng hề khi nào làm cho Bần-Đạo khủng khiếp. Duy có gánh của Đời, Ngài giao phó nó nặng nề hơn hết…”

Trước, vào ngày rằm tháng giêng năm Mậu Thìn (dl 06-02-1928) Đức Thượng Đế có dạy Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung và Thượng-Phẩm Cao Quỳnh Cư đến làng Phú mỹ, quận Cai-Lậy, tỉnh Mỹ tho lập Minh-Thiện Đàn. Nay, trong lúc Đạo Cao-Đài bị khảo đảo dồn dập, Minh-Thiện-đàn không được trông nom tới, có vẻ suy tàn, nên khi Đức Hộ-Pháp đến hợp nhứt hai nhóm cầu Cơ trên để phục hưng lại Minh Thiện Đàn và Đức Ngài làm Chưởng quản đồng thời cũng lập Phạm Môn. Khi ấy, Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế có giáng cho bài thi về Phạm Môn, sau Đức Hộ-Pháp giải trong bài thuyết Đạo:

Phạm-Môn là gì? Do nơi đâu mà nảy sanh ra Phạm-Môn ?

“Phạm-Môn là cửa Phật; Phạm là Phật, môn là cửa, tức là cửa Phật, thật-hành là nhà Phật.

Trong Thánh-ngôn hiệp-tuyển trang thứ 119 về khỏan thi văn dạy Đạo, có một bài thi tứ tuyệt, chính mình Đức Chí-Tôn giáng cho như vầy:

Tỉnh ngộ xá thân tại Phạm Môn,
Khuyến tu hậu nhựt độ sinh hồn.
Vô lao bất phục hồi chơn mạng,
Tỉnh thế kỳ thân đắc chánh tôn.

醒 悟 舍 身 在 梵 門
勸 修 後 日 度 生 魂
無 勞 不 復 回 眞 命
醒 世 其 身 得 正 尊

Tỉnh ngộ xá thân tại Phạm-Môn là nghĩa gì?

Nghĩa là Chí-Tôn kêu cả con cái của Đức Chí-Tôn thức giấc cho mau hiến thân vào cửa Phạm.

Khuyến tu hậu nhựt độ sanh hồn nghĩa là khuyên chúng sanh nên ráng tu-hành tùng khuôn viên kỷ-luật nhà Phật, thì ngày kia linh hồn được siêu thăng thoát hóa.

Vô lao bất phục hồi chơn mạng là Đức Chí-Tôn dạy con cái của Ngài nếu không công lao khổ hạnh trong cửa Đạo thì không thể nào trở về ngôi xưa vị cũ được.

Tỉnh thế kỳ thân đắc chánh tôn là nhằm lúc thế kỷ hai mươi này, thời kỳ Đức Chí-Tôn rộng mở cửa Phật độ toàn con cái của Ngài, chỉ khuyên chúng ta ráng tu tỉnh ngộ, huỷ cả hành-vi của thế sự, đem thân vào cửa Phạm chịu nâu sồng, khổ hạnh cho đặng thì tự-nhiên đắc Đạo tại thế đó vậy.

Thưa chư Chức-sắc Thiên phong Nam nữ, bài thi này chính Đức Chí-Tôn giáng dạy trong Thánh-Ngôn Hiệp Tuyển hai mươi mấy năm trường; song le, ít ai để ý tìm hiểu nghĩa lý sâu xa có ẩn nhiều huyền-vi mầu-nhiệm của Đạo .

Do bởi tấm màn bí-mật nên khó nỗi truy tầm, song cũng có lắm người vén được màn bí-mật ấy, nên ngày nay nhơn-sanh mới hưởng được giọt nước Cam-lồ của Đức Chí-Tôn cho tòan nhơn-loại.

Đời quá bạo tàn cho nên Đức Chí-Tôn mới giáng trần mở Đạo cho con cái của Ngài biết; các ngôi Thần, Thánh,Tiên, Phật đều tình-nguyện hạ thế cứu đời, xuống bao nhiêu lại càng mất bấy nhiêu. Trong thời kỳ Bần-Đạo vâng lịnh Đức Chí-Tôn xuống thế mở Đạo thì Đức Chí Tôn mới hỏi rằng:

- Con phục lịnh xuống thế mở Đạo, con mở Bí-pháp trước hay là mở thể-pháp trước ?

Bần-Đạo mới trả lời:

- Xin mở Bí-pháp trước

Chí-Tôn nói: Nếu con mở Bí-pháp trước thì phải khổ đa ! Đang lúc đời đang cạnh-tranh tàn-bạo, nếu mở Bí-pháp trước cả sự bí-mật huyền-vi của Đạo, đời thấy rõ xúm nhau tranh giành phá hoại, thì mối Đạo phải ra thế nào ? Vì thế nên mở thể-pháp trước, dù cho đời quá dữ có tranh-giành phá hoại cả cơ thể hữu-vi hữu-hủy đi nữa thì cũng vô hại. Xin miễn là mặt Bí-pháp còn là Đạo còn”.

(ĐHP 30-5-Quí-tỵ 1953)

Bấy giờ, số người nghe theo Đức Hộ-Pháp vào Phạm Môn ngày càng đông. Trước cổng Phạm Môn Đức Hộ-Pháp có đặt đôi liễn như vầy:

PHẠM giáo tùy nguơn cứu thế độ nhơn hành chánh pháp.

MÔN quyền định hội trừ tà diệt mị hộ chơn truyền

梵 敎 隨 元 救 世 度 人 行 正 法

門 權 定 會 除 邪 滅 魅 護 眞 傳

Đôi liễn nầy về sau đặt tại cổng của Hộ-Pháp Đường thường gọi là đôi liễn Phạm Môn, vì hai chữ đầu là PHẠM MÔN. Đôi liễn nầy cũng thấy đặt phía sau ba cái ngai của Đức Hộ-Pháp, Thượng-Phẩm, Thượng-Sanh tại Hiệp-Thiên Đài của Đền-Thánh Tòa Thánh Tây Ninh..

Đôi liễn Phạm Môn biểu thị tôn chỉ của Phạm Môn tức là Cửa Phật.

Giải nghĩa:

Phạm: Phật. Lưu ý: Chữ Phạm 梵 là Phật, khác với chữ Phạm 范 là họ Phạm. Giáo: dạy. Tùy: theo. Nguơn: chữ Nguơn của câu 1 đối với chữ Hội của câu 2. Nguơn Hội là chỉ những khoảng thời gian dài.

Đức Ngài còn dẫn giải đây chính là sự nghiệp của người tu theo tinh thần của Cao-Đài tức là Phật giáo chấn hưng, nên cũng còn gọi là PHẠM NGHIỆP.

Còn có câu câu liễn như vầy nữa:

PHẠM nghiệp thừa nhàn lợi lộc công danh vô sở dụng

MÔN quan tích đạo tinh thần pháp bửu hữu cơ cầu

梵 業 承 閒 利 祿 功 名 無 所 用

門 關 積 道 精 神 法 寶 有 箕 裘

Đôi liễn nầy do Đức Phạm Hộ-Pháp viết ra và Đức Ngài cho đặt lên cổng của ngôi nhà Phạm Nghiệp vừa mới cất xong. Phạm nghiệp là cơ sở đầu tiên của Phạm Môn, do Đức Ngài lập ra vào năm 1929 tại phần đất nằm bên quốc lộ 22, khoảng giữa Giang Tân và Thị xã Tây Ninh.

Hai chữ đầu của đôi liễn là PHẠM MÔN, nên Phạm Nghiệp chính là Phạm Môn, mà Phạm Môn cũng chính là Phạm Nghiệp.

Giải thích:

* Phạm: Phật. Phạm nghiệp: sự nghiệp của Phật. (Đừng hiểu lầm là sự nghiệp của dòng họ Phạm). Thừa nhàn: nhơn vào lúc nhàn. Lợi lộc: những món lợi nói chung. Công danh: có sự nghiệp và địa vị cao trong xã hội. Vô: không. Sở dụng: cái công dụng của nó.

Câu 1: Sự nghiệp của Phật, thừa lúc nhàn, lợi lộc và công danh đều không cần dùng đến.

* Môn: cửa. Quan: cơ quan. Tích đạo: chứa đạo đức. Tinh thần: phần sáng suốt thiêng liêng. Pháp bửu: cái pháp quí báu. Cơ cầu: con cháu nối theo cái nghề nghiệp do cha ông truyền lại.

Câu 2: Cơ quan chứa đạo đức, tinh thần và pháp bửu truyền lại được người sau noi theo.

Số người theo ngày càng đông đến nỗi phải cất thêm nhiều nhà cửa bằng tranh lá tạm mới có đủ chỗ cho người đến học Đạo thuộc Phạm Môn lúc bấy giờ. Khi có số đông người thì phải có qui điều giới luật là đương nhiên

“Thập điều giới răn” ra đời:

Đức Hộ-Pháp có ra 10 điều răn cấm cho người Phạm Môn do theo mà học hỏi gọi là “Thập điều giới răn”

Điều 1- Phải tuân y Luật pháp chơn truyền của Đức Chí-Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Điều 2- Phải trọn hiếu với Tông đường, phụ mẫu. Trọn nghĩa vợ chồng, vẹn phận làm cha mẹ.

Điều 3- Phải giữ trai giới

Điều 4- Phải xa lánh các đảng phái chánh trị

Điều 5- Phải thật hành Phước Thiện, nuôi người già, dưỡng trẻ nhỏ.

Điều 6- Không đặng thâu của chúng sanh.

Điều 7- Coi anh em đồng Đạo như ruột thịt.

Điều 8- Không bội sư, phản bạn.

Điều 9- Phải ở như các Thánh Hiền, đừng phạm tội vong ân, bội đức.

Điều 10- Phải thương yêu cả loài người, loài vật, kỉnh mạng sanh theo Thánh chất của Đức Chí-Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế là Chúa sự sống.

6- Lập Hồng thệ khi vào Phạm Môn:

Nhân sự nơi Phạm Môn ngày càng đông nên cần phải mở Lương điền ra các Tỉnh khác nữa.

Ngày 03-01 năm Nhâm Thân (Thứ Hai:8-2-1932)

Tất cả người Phạm Môn lập Hồng thệ “Đào Viên Pháp” quì trước Thiên Bàn Đức Chí-Tôn mà thề rằng:

“Tôi, (Họ, Tên, Tuổi) thề rằng từ nay coi Phạm Môn như ruột thịt, sanh tử bất ly, thoảng có điều chi hoạn nạn thì tôi liều mình với anh em tôi. Nếu ngày sau tôi thất nguyện, quyền Thiêng liêng sẽ hành pháp Tận đoạ Tam đồ bất năng thoát tục và Thầy tôi không nhìn nhận tôi nữa”.

Thoạt đầu, nhóm thực dân Pháp nghi rằng Đức Hộ Pháp sẽ lập ra Chi phái Cao-Đài mới, để đối kháng với ba ông Quyền Đầu-Sư đúng như ý đồ của Pháp hoạch định, do đó chúng mới để yên cho Minh Thiện Đàn phát triển.

Đến khi thấy thành lập Phạm Môn, ban qui điều. Phân nhiệm tổ chức. Phát triển hậu cần. Bấy giờ thực dân Pháp sinh lo ngại nên quyết dẹp Phạm Môn. Chúng xúi giục những thân nhân của nhóm người theo Phạm Môn kiện Đức Hộ-Pháp ra Toà về tội “dụ dỗ con em của họ bỏ quên tộc họ của mình mà tôn thờ họ Phạm”, phá hoại phong hoá Việt-Nam, xúc phạm Tông đường của họ.

7- Đức Hộ-Pháp ra Toà trả lời về Phạm Môn:

Trước Toà, Đức Hộ-Pháp giải thích rằng:

Câu 1: Chữ Phạm có nhiều nghĩa trong lối viết chữ Nho, mà chữ Phạm 梵 đây là Phật, gồm có lâm 林 trên và phàm 凡 dưới. Dẫn chứng hai chữ Phạm Môn 梵 門 (lối vô tự kinh) ở trước Đền Thánh đó. Hai khu rừng thiên nhiên, mỗi một khu rừng tượng chữ mộc 木 (Mộc là cây) hai khu rừng tượng hai chữ mộc liền nhau, thành ra chữ lâm 林 là rừng. Trước Đền là sân Đại-đồng-xã tượng cho cảnh phàm 凡. Bấy giờ ghép lại: Lâm đặt trên, phàm đặt dưới thành ra chữ PHẠM. Chung quanh Đền có 12 cửa tượng là môn 門. Do đó mà Phạm Môn chính là đây, là cửa Phật. Đôi liễn này hiện đặt ở cổng Hộ-Pháp-Đường.

Tóm lại: Phạm Môn là cửa Phật, chứ không phải là tộc họ Phạm của Ngài (Phạm Công Tắc).

Câu 2: Khi vào Phạm Môn có buộc mỗi người phải làm Tờ hiến thân, có cha mẹ, vợ chồng đồng ý ký tên mới nhận, thì không có lý do gì ai dụ dỗ ai được.

Câu 3: Điều thứ nhì trong “Thập điều giới răn” của Phạm Môn có qui định rõ “Phải trọn hiếu với Tông đường, phụ mẫu. Trọn nghĩa vợ chồng, vẹn phận làm cha mẹ.”thì không thể bảo rằng phá hoại luân lý, xúc phạm Tông đường được.

Toà không buộc tội về những lý do trên, lại xoay qua vấn đề “Lập Hội đoàn” không xin phép.

Đức Hộ-Pháp chống án lên Toà Thượng Thẩm Sài gòn. Toà Thượng Thẩm Sài gòn xử chung quyết “Y án Toà Sơ Thẩm”. Đức Ngài liền chống án lên Tối Cao Pháp Viện ở Thủ đô Paris (Pháp). Đức Ngài uỷ quyền cho Ngài Bảo-Cô-Quân là Luật-sư Dương văn-Giáo thay mặt Đức Ngài lo việc chống án. Kết quả: Tối Cao Pháp Viện phán quyết: Trắng án!

Bấy giờ, Đức Ngài vẫn lo hoạt động Phạm Môn: một mặt bổ nhiệm 21 vị Phạm Môn đi 21 Tỉnh (Thuở ấy miền Nam Việt-Nam chỉ có 21 Tỉnh mà thôi). Một mặt Ngài trở về Tây-Ninh lập Phạm Nghiệp như đã nói trên.

8-Quyền hành của Hộ-Pháp phải như thế. Ai hiểu?

Đức Hộ-Pháp nói:

“Mấy em Nam, Nữ nghĩ coi; một lời tiên tri trước kia nó hiện tượng hôm nay ra thể nào, mấy Em biết cái huyền linh vô biên của Đấng cầm quyền thưởng phạt vô hình nó mạnh mẽ và chơn thật thế nào? Bởi cớ cho nên khi Đạo mới phôi thai thì các quỷ-quyền toan diệt Đạo. Buổi sơ sanh Đạo yếu ớt, bạc nhược, ngu dại, dốt nát thế nào, nên bị nó giục cho thiên hạ dùng cả năng lực quyền hành của mình toan tiêu diệt Đạo cho kỳ đặng. Họ đồ mưu chia rẻ làm cho trong Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn phải ly tán, Anh nghịch Em, Em bất hòa với Anh, cả nền Đạo chinh nghiêng đảo ngược.

Gánh một chức vụ Hộ-Pháp cầm cả Luật Pháp của Đạo, không lẽ Qua ngồi ngó đặng chịu tội cùng Đức Chí Tôn. Qua phải tìm phương giải quyết đem chữ Hòa của Đức Chí Tôn muốn ấy đặng làm căn bản. Bởi cớ cho nên mới sản xuất ra Phạm-Môn và Qui-thiện.

Thiên hạ nói Qua lấy Tộc Qua là Phạm, tức nhiên lập cái đảng-phái cho họ Phạm.

Qua hỏi: Thiên hạ đã tuyên-truyền dối trá ấy đặng đánh đổ cả uy-tín của Qua như thế nào, Qua chưa hề trả lời cho ai hết, dầu cho quyền hành buổi nọ rất mạnh-mẽ đòi phen đem đến Luật hình, mà chính mình Qua cũng chưa nói cho họ biết nghĩa lý Phạm-Môn là gì?

Hôm nay mấy em biết chưa?

Có lẽ phần nhiều mấy em đã biết, Phạm ấy là Phật, Phạm Môn là cửa Phật, nói rõ hơn nữa là cửa Tu Chơn của Đạo, cửa Bảo-thủ Chơn Pháp của Chí-Tôn. Còn Qui Thiện thế nào Qua chưa nói ra cho thiệt tướng.

Thiên hạ đều hung bạo, vì lẽ hung bạo làm cho Anh nghịch Em, Em hận Anh, trong cửa Đạo không có một vẻ chi là Đạo hết. Lập trường Qui-thiện là cốt yếu đem lòng lành của toàn thể con cái Đức Chí-Tôn hiệp nhứt cùng nhau làm một đặng bảo thủ Chơn-Truyền của Đạo.

Buổi đầu tiên nó sản xuất tại nơi Mỹ-Tho, Qua lập "Khổ Hiền Trang” mấy em biết hai chữ Khổ Hiền ý định Qua thế nào không? Trong bảy mươi hai anh em chung sức cùng nhau mà làm đầu trường Qui-Thiện ấy là Đinh Công Trứ vẫn là một trong đó vậy. Nhờ cả sự giáo hóa của Qua cái nghĩa lý tối yếu, tối trọng của Chơn-Pháp Đức Chí-Tôn Qua giao lại cho nó, để làm thế nào cho thiên hạ hết thống khổ về tinh thần lẫn vật chất. Sự biết Đạo của Đinh-Công-Trứ là vậy.

Tưởng cũng như Qua đã bị các nạn-nhân của các lực lượng quyền Đạo luôn quyền Đời.

Buổi nọ thiên hạ tuyên-truyền dối trá thì Đinh Công-Trứ cũng bị nạn ấy. Qua đã bị thiên hạ chê là lo Đời hơn lo Đạo, thì Đinh-công-Trứ cũng vậy, thiên hạ nói nó cũng như Qua lo Đời hơn lo Đạo.

Mấy em ôi! Trong buổi phong ba bão táp, nhơn loại ở trong sông mê bể khổ, một con thuyền Bát-Nhã chưa tạo thành đặng độ-rỗi họ, ít nữa mấy em cùng Qua cố gắng tạo cho thành đặng cứu vớt khổ não của họ đặng bao nhiêu hay bấy nhiêu.

Thiên hạ thấy mấy em khổ-não, cái khổ ấy nó đã làm cho Qua đổ biết bao nhiêu giọt huyết lệ từ khi mới biết Đạo. Tân-Dân-Thị chính của mấy Em tìm phương chui đụt, tìm phương giải khổ cho mấy Em. Mấy Em được hạnh-phúc hay chăng là do lòng đạo đức của mấy Em. Qua còn sống đây thì Qua cũng lo tạo dựng mảy-may hạnh phúc cho mấy Em. Tạo hạnh phúc ấy chỉ có một đường lối duy nhứt là Qua làm sao cho mấy Em giải khổ, phận sự Thiêng Liêng của Qua là vậy.

Trong Bí-pháp Qua viết chữ Hòa, nơi Tân-Dân Thị nhờ chữ Hòa mà thêm lòng yêu ái. Qua gởi hai chữ Hòa Ái nơi lòng của mấy Em đó vậy. Qua cầu xin mấy Em có một điều là chung sức cùng nhau đặng tạo hạnh phúc cho nhau, mấy Em đã có sẵn tình đức của Đức Chí-Tôn đã đến trong ba chục năm nay thôi, chỉ trong ba chục năm hưởng được đặc ân của Đại-Từ-Phụ đã đến tạo cả tâm hồn mấy Em. Tình đức trong Đạo ấy, mấy Em tu thân dễ quá chừng quá đỗi. Tu thân mấy Em là làm nền móng vững chắc đặng lập công danh, đừng ngó ra ngoài những giả dối đó mà cho là sự thật. Chưa có thật đâu mấy Em ! Đứng trong cửa Đạo nương tình đức lập thân danh. Qua dám nói chắc cả con cái Đức Chí-Tôn Nam, Nữ để ý, do căn bản tình đức ấy chẳng hề khi nào hư, nếu Qua không nói mấy Em ngồi trên đầu thiên hạ”.

(ĐHP thuyết đêm 14-11 Giáp Ngọ)

9- Đức Hộ-Pháp lập Phạm nghiệp:

Ngày 15 tháng 8 Mậu Thìn (Thứ Sáu:28-9-1928)

Đức Hộ-Pháp trở về nơi Trường Đua, làng Trường Hoà, quận châu thành, Tỉnh Tây Ninh mua một phần đất lập Phạm Nghiệp. Mục đích lập Phạm nghiệp là để cho thành phần đối lập trong Đạo Cao Đài giờ này họ chỉ chú ý vào đấy (Một hình thức dương đông kích tây). Ngoài ra Ngài còn lo tiến nhanh tổ chức các sở Lương điền Phạm Môn thuộc Tỉnh Tây-ninh nữa, như:

Sở Khách đình: từ địa phận cửa số 5 đến cửa số 8 thuộc Thánh địa.

Sở Trường Hoà (vùng bàu sen).

Sở Giang Tân (Mé sông vàm cỏ, nơi giáp ranh xã Trường hoà và Long Thành).

Sở Cầu khởi. Sở Mít một. Sở Dưỡng lão…

Bấy giờ trước sự im lặng của Đức Quyền Giáo-Tông, sự tích cực hoạt động của Đức Hộ-Pháp, nhóm người đối nghịch cũng rất lo ngại, nên quyết ra lịnh “Truất phế” ngay những vị này.

10- Về phía của hai ông Tương Trang chiếm hữu Toà-Thánh:

Sau khi nắm trọn quyền điều hành Hội-Thánh, hai ông Quyền Đầu-Sư là: Thượng Tương Thanh (Tri phủ Nguyễn Ngọc Tương) và Ngọc Trang Thanh (Tri phủ Lê Bá-Trang) đã hiện rõ chân tướng mình là: Tham quyền cố vị, thể hiện hết sự độc tài, độc đoán, bất chấp chơn truyền đạo lý và không tuân thủ luật pháp của Đại-Đạo. Do vậy mà thời gian này Ngài Quyền Thái Đầu-Sư Thái Thơ Thanh đã tuyên bố không hợp tác với hai vị này.

Thế là không còn đủ số ba Quyền Đầu-Sư mà hành Quyền Thống nhứt của ba vị Đầu-Sư được nữa. Mặc dù vậy, hai ông Tương và Trang vẫn thi hành theo mật lịnh của thực dân Pháp; tiến hành truất phế Đức Quyền Giáo-Tông Lê Văn Trung và Đức Hộ-Pháp Phạm Công Tắc.

Hai ông cho mời tất cả Chức sắc Cao-Đài: Đầu Tình đạo, Đầu Quận Đạo, Chức việc đầu hương đạo về Toà Thánh Tây Ninh nhân ngày Lễ Vía Đức Chí-Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế, ngày 9 tháng giêng năm Kỷ-Tỵ (Thứ Hai: 18-02-1928) với mục đích lợi dụng người địa phương không rõ nội tình ở Trung ương làm cuộc sách động truất phế hai Ngài luôn.

Trong khi đó Đức Hộ-Pháp đã thông báo cho các Sở Lương điền Phạm Môn trên toàn quốc ngầm giải thích hành động của hai ông Tri phủ Tương và Trang. Do đó lượng người kéo về Toà Thánh đông gấp hai, ba lần những năm khác (Ngài dùng phương pháp tương kế tựu kế).

Đến giờ cúng Đại Đàn Lễ Vía Đức Chí-Tôn bất thình lình Đức Hộ-Pháp và Đức Quyền Giáo-Tông xuất hiện trong giờ cúng.

Sau phần nghi lễ, Đức Quyền Giáo-Tông lên Đài thuyết Đạo. Đại ý nói là khi Đức Ngài nghỉ dưỡng bịnh có trao quyền điều hành lại cho Hội Thánh là các ông:

“- Hộ-Pháp Phạm Công Tắc.

- Thái Thơ Thanh.

- Thượng Tương Thanh.

- Ngọc Trang Thanh

Điều khiển nền Đạo khi tôi nghỉ dưỡng bịnh.”

Đức Hộ-Pháp cũng trình bày việc Ngài rời Toà Thánh Tây Ninh xuống Từ-Vân-Tự, Túc trưng (Thủ đức), rồi xuống Cai lậy Mỹ tho thống nhứt Hồng Đăng Đàn và Bạch Đăng Đàn, củng cố Minh Thiện Đàn, lập Phạm Môn, lo tạo Sở Lương điền... không kiểm soát việc làm của Hội Thánh Cửu Trùng Đài, để nhiều Chức sắc vi phạm lời Minh thệ khi Nhập môn cầu Đạo “Hiệp đồng chư môn đệ gìn luật lệ Cao Đài”.

Lúc ấy Đức Hộ-Pháp lên giải lý và xuất trình một số Thánh giáo của Đức Phật-Mẫu và Thất Nương Diêu Trì Cung dạy Ngài phải xuống Thủ Đức rồi Cai-lậy (Mỹ tho) củng cố Minh-Thiện-Đàn làm sáng tỏ tánh thiện của người Đạo Cao-Đài cho nhơn sanh thấy rõ hầu tùng theo chơn truyền Đại-Đạo. Khi một người đã vào Đạo thì Cửu Trùng Đài giáo hoá họ về việc tu hành. Khi qui vị thì Hội-Thánh Hiệp-Thiên-Đài giúp đưa chơn linh họ vào Bát-Quái-Đài. Ngoài ra Đức Ngài còn lo gỡ ếm “Long Tuyền Kiếm”của người Tàu, để phục lại cho Việt-Nam có được Thánh Chúa, tôi Hiền, phát Vương, phát Tướng.

Vì tầm quan trọng đó: lo cho nhơn sanh tức là lo cho Tổ quốc Việt-Nam, nên Đức Ngài phải gát lại việc kiểm soát Hội-Thánh Cửu Trùng Đài trong thời gian qua.

Đối với số Chức sắc không giữ đúng lời Minh Thệ Ngài phân tích:

- Quyền Chí-linh hiệp quyền vạn linh, tức là Trời Người hiệp một. Quyền lực tối cao của Đức Thượng Đế còn không độc đoán, vậy hai Ông Tương và Trang chỉ là Quyền Đầu-Sư mà mọi việc lớn nhỏ trong cửa Đạo lại lắm quyền độc đoán, một mình tự quyết như vậy là vi phạm luật của Đạo.

- Chiếu y Pháp Chánh Truyền thì:

. Giáo hữu muốn thăng lên Giáo Sư thì nhờ 3.000 vị Giáo Hữu xúm nhau công cử.

. Giáo-sư muốn thăng lên Phối-Dư thì nhờ 72 vị Giáo Sư xúm nhau công cử.

. Phối Sư muốn thăng lên Đầu-Sư thì nhờ 36 vị Phối Sư xúm nhau công cử.

Hiện nay trong cửa Đạo, mỗi phẩm cấp đều không đủ số như Pháp Chánh Truyền qui định. Do đó Đức Lý Đại Tiên Trưởng Nhứt Trấn Oai nghiêm kiêm Giáo-Tông Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đã thỉnh ý Ngọc Hư Cung và đã được dạy là trao quyền thăng phẩm vị Chức sắc cho QUYỀN VẠN LINH cho đến khi có các phẩm vị Chức sắc thì sẽ áp dụng luật cầu thăng theo như Pháp Chánh Truyền qui định.

- Như vậy việc hai ông Quyền Đầu-Sư Thượng Tương Thanh và Ngọc Trang Thanh thăng phẩm vị cho một số Chức sắc thuộc hạ là vi phạm vào luật lệ Cao Đài.

- Như việc hai vị này giao trách nhiệm cho Giáo Hữu Thượng Chính Thanh làm Quyền Thượng Thống Lại viện, quản lý toàn bộ Chức sắc Cửu Trùng Đài, cũng là vi phạm luật lệ của Đạo.

- Vấn đề bổ Chức sắc: không được thuyên bổ Chức sắc về nơi nguyên quán, để khỏi bị mặc cảm đối với dĩ vãng, nếu có, hoặc vì quen thuộc mà vị nễ nhau khó làm việc mà mất sự vô tư. Hai vị này đã vi phạm vào luật Đạo.

Sau đó, toàn Đạo thỉnh cầu Đức Quyền Giáo-Tông vừa dưỡng bịnh vừa trở lại chấn chỉnh lại Hội-Thánh Cửu Trùng Đài và cũng thỉnh cầu Đức Hộ-Pháp thường xuyên có mặt ở Toà-Thánh Tây Ninh lo cho nền Đạo giữ đúng luật pháp chơn truyền Đại-Đạo.

Hai ông Quyền Đầu-Sư: Thượng Tương Thanh và Ngọc Trang Thanh đã bị mất uy tín trong toàn Đạo và hỏng cả kế hoạch “truất phế” hai Đấng đầu công của Đạo là Đức Quyền Giáo-Tông Lê-Văn-Trung và Đức Hộ-Pháp Phạm Công Tắc ngay trong thời điểm này.

11- Phương pháp dùng bạo lực của nhóm phản đối:

Hai vị Quyền Đầu-Sư Thượng Tương Thanh và Ngọc Trang Thanh họp với các nhóm của Minh Chơn Lý, nhóm Cầu kho, nhóm Nguyễn Phan Long và nhất là nhóm du đãng của Nguyễn Phát Trước (tức là Tư Mắt) làm nồng cốt, quyết dùng bạo lực.

Đức Hộ-Pháp đàng này cho gọi tất cả anh em Phạm Môn về bảo vệ Thánh Địa Tây Ninh. Hàng hàng lớp lớp người Cao-Đài chân chính và người của Phạm Môn chia nhau canh gát tất cả các cửa vào Nội-Ô Toà Thánh. Lực lượng thành phần đối lập đương nhiên xông vào, thế là trận xô xát xảy ra từ 7 giờ đến 9 giờ, thì nhóm đối lập này bị yếu thế, đành rời khỏi Thánh Địa mà trở về địa phương của họ.

Ngày 26-5 Quí Dậu (Thứ Ba: 18-7-1933)

Hội Thánh Đại-Đạo Tam-kỳ Phổ Độ lập Đạo Nghị định thứ 17 ngưng quyền cả hai Ông:

- Quyền Đầu-Sư Thượng Tương Thanh (Tri phủ Nguyễn Ngọc Tương )

- Quyền Đầu-Sư Ngọc Trang Thanh (Tri phủ Lê Bá Trang)

Ngày 13-10 Giáp Tuất (Thứ Hai: 19-11-1934)

Đức Quyền Giáo-Tông ở Toà-Thánh qui Tiên, toàn Đạo đều thọ tang một bậc Giáo-Tông đáng kính.

Hai ông Tri phủ Tương và Trang về dự đám tang với chủ định là cướp quyền Đạo một lần nữa. Nhưng Đức Quyền Giáo-Tông đã tiên liệu nên có lời Di chúc là:

“Cấm hai vị Nguyễn Ngọc Tương và Lê Bá Trang cùng đám thuộc hạ không được dự tang lễ của Đức Ngài”.

Do đó mà đoàn người phải trở về Bến Tre.

Sau ngày Lễ Đại Tường của Đức Quyền Giáo-Tông (tức là 581 ngày, sau ngày qui) Đức Hộ-Pháp có giải rõ về “Đại Hội Nhơn Sanh” là việc cần yếu. Nhân đó tổ chức Đại hội này, toàn Đạo sẽ chọn người đủ khả năng tài đức mà uỷ nhiệm và trao cho người xứng đáng để đảm nhiệm trọng trách Chưởng quản Cửu Trùng Đài.

Kết quả Hội-Nhơn-Sanh đã Uỷ nhiệm trách vụ Chưởng Quản Cửu-Trùng-Đài cho Đức Hộ-Pháp kiêm nhiệm, tức là kể từ ngày này Đức Hộ-Pháp sẽ Chưởng Quản cả Nhị Hữu Hình Đài: Hiệp-Thiên và Cửu Trùng cho đến ngày có Đầu-Sư chánh vị..

Sau đó, phò cơ thỉnh giáo Đức Lý Đại Tiên, Đức Ngài có dạy rằng: “Trước kia Lão có nói sẽ nhượng nửa quyền về phần xác cho Hộ-Pháp, thì Lão đã đồng ý giao trách nhiệm cho Hiền Hữu. Nếu không có nửa quyền của Lão chia cho thì Hộ-Pháp khó có thể điều hành Hội-Thánh Cửu Trùng Đài.”

Qua bao lần số chức sắc đàn Anh đã ra đi: một số bỏ Đạo, một số lập Chi phái rồi kéo theo số thân tín của mình thành ra số Chức sắc của Tòa Thánh buổi đầu vốn đã ít giờ lại ít hơn, tinh thần cũng kém, nên việc điều hành Hội-Thánh giữa buổi này rất khó.Đức Lý Đại Tiên cho Thi

Bắt ấn trừ yêu đã đến kỳ,
Ngọc Hư định sửa mối Thiên Thi.
Cửu Trùng không kế an thiên vị,
Phải để Hiệp-Thiên đứng trị vì.
Thành Pháp dìu đời qua bể khổ,
Nên công giúp thế lánh cơn nguy,
Quyền hành từ đấy về tay nắm,
Phải sửa cho nên đúng thế thì!

Đức Lý Giáo-Tông

Ngày 18-11 Giáp Tuất (Thứ Hai: 24-12-1934)

Hai ông Tương và Trang về Thánh-Thất An-Hội (Bến Tre) phổ biến châu tri 147 mạ lỵ Đức Quyền Giáo-Tông Lê Văn Trung và Đức Hộ-Pháp Phạm Công Tắc.

Hai ông tự phong chức là:

- Tri phủ Lê Bá Trang là CHƯỞNG PHÁP

- Tri phủ Nguyễn Ngọc Tương làm ĐẦU SƯ của phái Bến Tre.

12 -Ban Chỉnh Ðạo (Phái Bến Tre):

Nhớ lại vào đầu năm 1934, khi hai ông rút khỏi Tòa Thánh Tây Ninh về Bến Tre lập Ban Chỉnh Ðạo, với mục đích chấn chỉnh lại nền Ðạo, qui tụ được 85 Thánh Thất theo về với hai ông. Trong lúc đó, toàn Ðạo Cao Ðài chỉ có 128 Thánh Thất, như vậy số Thánh Thất theo hai ông Tương và Trang cùng với số tín đồ chiếm hết 2/3, Tòa Thánh Tây Ninh chỉ còn lại 1/3. Hai ông cố gắng lôi kéo một số vị Thời Quân Hiệp-Thiên-Đài theo về hai ông để cho có đủ hai Ðài: Hiệp-Thiên-Đài và Cửu-Trùng-Đài, nhưng không thành công, vì một số vị Thời Quân, tuy có bất mãn Ðức Hộ-Pháp nhưng quí vị ấy muốn giải quyết vấn đề theo chiều hướng khác hơn hai ông kia, nên quí vị ấy không hợp tác với hai ông được.

Thế lực của hai ông rất mạnh, lại được chánh quyền Pháp ủng hộ, nên hai ông tổ chức thuê bao gần chục chiếc xe đò đưa rất đông tín đồ của hai ông về Tây-Ninh dự định sẽ dùng sức mạnh chiếm Nội-Ô Toà-Thánh. Hai ông báo cho Ðức Quyền Giáo-Tông biết ngày 20-1-Giáp Tuất (1934) hai ông sẽ kéo lên Tòa Thánh, vì hai ông nghĩ rằng phần thắng nắm chắc trong tay.

Ðức Quyền Giáo-Tông liền thông báo cho Ðức Hộ-Pháp. Ðức Hộ-Pháp tức cấp huy động tất cả khoảng 500 công quả Phạm Môn chia nhau giữ chặc các cửa vào Nội Ô Toà Thánh. Với sức kháng cự quyết liệt mạnh mẽ của 500 công quả Phạm Môn, lực lượng của hai ông Tương và Trang phải chịu thảm bại, rút lui về Sài Gòn.

Cuối năm 1934, Ðức Quyền Giáo-Tông đăng Tiên (ngày 13-10-Giáp Tuất, dl 19-11-1934).

Trong khi đó, tại Thánh Thất An Hội Bến Tre, Ngài Nguyễn Ngọc Tương và Lê Bá Trang tổ chức Ðại Hội toàn thể Chức sắc và tín đồ thuộc Ban Chỉnh Ðạo để bầu cử chức Giáo-Tông: Lần bầu cử thứ nhứt, Ngài Lê Bá Trang lên chức Ngọc Chưởng Pháp; lần bầu cử thứ nhì, Ngài Nguyễn Ngọc Tương lên chức Giáo-Tông. Ðó là vào năm 1935 (Ất Hợi).

Năm 1938, Ngài Nguyễn Ngọc Tương cử hành một lễ long trọng, tuyên bố nhiệm vụ của Ban Chỉnh Ðạo chấm dứt. Như vậy là Ngài lập thành Chi phái Bến Tre, xây dựng Thánh Thất An-Hội thành Tòa-Thánh Bến-Tre, tổ chức Cửu Viện, thăng thưởng một số Chức sắc cầm quyền Cửu Viện.

Thực lực của phái Bến Tre lúc đầu rất đông và rất mạnh, nhưng vì không có chánh nghĩa nên số người theo ông lần lần rút lui, các hoạt động chỉ cầm chừng, dần dần suy tàn, nhất là sau khi Ngài Lê Bá Trang qui vị. Ngài Nguyễn Ngọc Tương thường nhập tịnh theo cách riêng của ông, càng về sau nầy, Ngài tự xem mình như là một phân thân của Ðức Lý Giáo-Tông, nên Ngài tự xưng là Lý Giáo Tông.

Năm 1951, Ngài Nguyễn Ngọc Tương qui vị.

Sau đó, phái Bến Tre phân ra làm hai nhóm nhỏ độc lập nhau: Một nhóm tại Tòa Thánh Bến Tre, một nhóm tại Thánh Thất Tân-Túc (Bình Chánh) và Thánh Thất Ðô Thành đường Hậu Giang Chợ Lớn.

(Ðức Quyền Giáo-Tông giáng cơ tiết lộ cho biết: Ngài Nguyễn Ngọc Tương là chơn linh của Ngô Tôn Quyền tái kiếp, Ngài Lê Bá Trang là chơn linh Quan Vân Trường thời Tam quốc tái kiếp)

13. TIỂU SỬ NGUYỄN NGỌC TƯƠNG (1881- 1951)

Ông Nguyễn Ngọc Tương sanh ngày 26-5-Tân Tỵ (dl 22-6-1881) tại làng An Hội, tỉnh Bến Tre, thuở nhỏ học tại Collège Mỹ Tho, rồi lên Sài Gòn học ở Lycée Chasseloup Laubat, đậu bằng Thành Chung năm 1902, xin làm Thơ ký phòng Thượng Thơ. Làm nơi đây được 1 năm thì xin về làm Thơ ký nơi Tòa Bố tỉnh Bến Tre suốt 17 năm liền.

Năm 1919, thi đậu ngạch Tri Huyện, được bổ làm Chủ Quận Châu Thành Cần Thơ, rồi Chủ Quận Hòn Chông (Hà Tiên), rồi đến năm 1924 thì đổi về làm Chủ Quận Cần Giuộc, qua năm 1927 đổi ra làm Chủ Quận Xuyên Mộc (Bà Rịa).

Ông nhập môn theo Ðạo Cao-Ðài vào tháng 2 năm Bính-Dần (1926), thọ phong Thượng Chánh Phối Sư ngày 17-5-Bính Dần (dl 26-6-1926). Năm 1930, thăng lên Quyền Ðầu Sư.

Ðầu năm 1934, ông Nguyễn Ngọc Tương và Lê Bá Trang tách khỏi Tòa Thánh Tây Ninh, rút về làng An Hội lập Ban Chỉnh Ðạo và sau đó biến thành Chi phái Bến Tre.

Ngày 8-1-Ất Hợi (dl 11-2-1935), Ðại Hội Vạn Linh của phái Bến Tre bầu ông Tương làm Giáo-Tông phái Bến Tre.

Ngày 7-4-Ất Hợi (dl 9-5-1935) cử hành Lễ Ðăng điện cho Ngài Tương lên ngôi Giáo-Tông ở Thánh Thất An Hội Bến Tre và từ đó, Thánh Thất An Hội được gọi là Tòa Thánh Bến Tre.

Từ năm 1942 đến 1951, ông Tương thường nhập tịnh trong Tịnh Thất riêng, lúc đó ông thường tự xưng là Lý Giáo-Tông.

Ngày 14-4-Tân Mão (dl 19-5-1951), ông Tương qui thiên, tháp được xây dựng ngay trước Thánh Thất An Hội, Bến Tre.

14-. TIỂU SỬ LÊ BÁ TRANG (1879-1936):

Ông Lê Bá Trang sanh năm 1879 tại làng An Qui, tổng An Trung, tỉnh Sa-đéc. Ông theo Tây học, thi đậu ngạch Tri Huyện, được bổ làm Chủ Quận Thủ Ðức, rồi thi đậu Tri phủ, được bổ làm Chủ Quận Chợ Lớn, được thăng Ðốc Phủ Sứ, làm Chủ Quận Vũng Tàu.

Ông nhập môn theo Ðạo Cao Ðài vào tháng 5 năm 1926 (Bính Dần), được Thiên phong Ngọc Chánh Phối Sư vào ngày 3-7-Bính Dần (dl 10-8-1926).

Năm 1929, Ngài Lê Bá Trang xin từ quan và phế đời về Tòa Thánh Tây Ninh hành Ðạo.

Năm 1930, Ngài Lê Bá Trang được thăng lên Quyền Ngọc Ðầu Sư, cùng một lượt với Ngài Nguyễn Ngọc Tương.

Ông Trang cùng với ông Tương rút về Bến Tre lập Ban Chỉnh Ðạo, sau đó biến thành Chi phái Bến Tre. Ông được Ðại Hội Vạn Linh của phái Bến Tre bầu làm Ngọc Chưởng Pháp.

Ông Trang qui liễu tại Bến Tre ngày 30-5-Bính Tý (dl 17-7-1936), liên đài được đưa về Tòa Thánh Tây Ninh ngày 21-7-1936, được Toà-Thánh nhận cho vào nhập bửu tháp ở phẩm Ngọc Ðầu Sư.

Ðàn cơ tại Phạm Nghiệp ngày 11-6-Bính Tý (dl 28-7-1936), phò loan: Ðức Hộ-Pháp và Cao Tiếp Ðạo, Ðức Quyền Giáo-Tông giáng cơ nói về chơn linh của Ngài Lê Bá Trang bị đọa nơi Lạc Hồn Trì, ghi lại như sau:

THƯỢNG TRUNG NHỰT

“Chào mấy em.

“Thượng-Phẩm nói với Qua mấy em đợi.

Ôi! Qua nghĩ lại bắt tức mình, mấy em nghĩ lại mà coi, một kiếp sanh đâu mấy lát, cái giả cuộc trần hoàn tuy xem nháy mắt mà ảnh hưởng nó sâu sắc biết là bao, nào là danh, nào là vị, nào là tước, nào là quyền, nào là vinh, nào là trọng, rốt sự rồi cũng không còn mảy mún giá trị chút gì nơi cõi Hư linh Hằng sống, bất quá như còn vui dự đặng một tiệc ngọt ngon của khách phong trần say sưa một lát mà đòi phen chịu thảm cả đời.

Qua đến viếng TRANG nơi Lạc Hồn Trì, nó nằm mê sảng sốt, đau lòng hết sức, như lời Thất Nương và Bát Nương làm chứng, thì dầu cho Qua có đến gần nó lúc nầy cũng không bổ ích chút nào cả, phải đợi cho nó từ từ định tỉnh, may ra có tay Thất Nương giải mộng thì thỉnh thoảng định tỉnh tinh thần. Nếu Qua cượng cầu thì chẳng khác nào hầu chuyện với người điên, chọc thêm loạn tánh.

TÁM, Em nên phò loan đặng Qua truyền tin TRANG cho Em hiểu. Khi nãy, Qua thấy em có khách nhiều thì phải, thôi Qua đi.” Thăng.

Chú thích:
TRANG: Ông Lê Bá Trang.
Ðức Quyền Giáo-Tông gọi Ðức Hộ-Pháp là Em TÁM (vì Ðức Hộ Pháp thứ tám)

Ðàn cơ tại Hộ-Pháp Ðường ngày 17-10-Bính Tý (dl 30-11-1936), phò loan: Ðức Hộ-Pháp và Cao Tiếp Ðạo. Ðức Quyền Giáo-Tông giáng cơ nói về chơn linh của ông Trang và ông Tương:

THƯỢNG TRUNG NHỰT

… “TRANG khóc quá bây ơi! Vừa hiểu hiểu chớ còn khi tỉnh khi say, nhưng Qua theo bên mình ủng hộ, không sao phòng ngại.

Em TÁM làm ơn nói với con Hai cho nó biết, kẻo lo rầu tội nghiệp.

Hộ-Pháp bạch: - Biết nó nghe không?

- Em cứ nói giùm. Cha chả! Va oán Em đánh va hôm nọ lắm. Qua an ủi mà hễ tỉnh thì cằn rằn hoài. Em nên viết cho va một cái thơ an ủi, cậy Qua đưa giùm đặng Qua thừa dịp thức tánh va một chút. Em làm ơn giùm.

…- Ôi! Thây kệ, đừng giận làm gì nữa. Nếu Em thấy va lúc nầy thế nào Em cũng tội nghiệp. Em làm phước làm giùm cái tháp cho va, hễ tỉnh thì hỏi có bao nhiêu đó hơn hết.

Ôi! TƯƠNG là cục nợ báo đời của TRANG, do căn kiếp phải vậy, dầu khi chết cũng còn theo báo hại.

Em biết TƯƠNG là ai chăng?

Ðứa nào nói trúng, Qua thưởng một củ mì.

Qua nói nhỏ: NGÔ TÔN QUỜN đó biết không?...

15- Cái chết của Ông Lê Bá Trang:

Ngày 30-5 Bính Tý (Thứ Sáu: 17-7-1936). Ông Tri phủ Lê Bá Trang, là Ngọc Chưởng Pháp của Ban Chỉnh Đạo (Bến Tre) từ trần. Ban Chỉnh Đạo xin Hội-Thánh Cao-Đài Toà-Thánh Tây Ninh cho ông Trang được an táng nơi nội-ô Toà-Thánh Tây Ninh. Dù rằng ông Trang đã bị Hội Thánh Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ lập Đạo Nghị định thứ 17 ngưng quyền cả hai Ông: Tương và Trang ngày 26-5 Quí-Dậu (Thứ Ba: 18-7-1933) rồi. Nhưng Hội Thánh vẫn rộng quyền ân tứ như lời cầu xin.

Thế là vào ngày 4-6 Bính-Tý (Thứ Ba: 21-7-1936)

Ban Chỉnh Đạo Bến tre chở liên đài ông Lê Bá Trang về Toà Thánh có cả ông Nguyễn-Ngọc-Tương mặc phẩm phục Giáo-Tông của phái Bến tre và đoàn tuỳ tùng là Chức sắc áo mão rực rỡ, rần rần, rộ rộ kéo về Toà-Thánh Tây ninh. Thực sự đây cũng là một “ý đồ” chiếm Toà Thánh nữa. Nhưng…

Hội Thánh Cao-Đài Toà Thánh căn cứ vào quyết nghị là: Ban Chỉnh đạo Bến tre đã có Hội-Thánh riêng, giáo điều riêng, giáo lý riêng, Thánh Thất riêng thì không thể mặc sắc phục này vào Toà Thánh được. Muốn về Toà Thánh thì phải tuân theo Nghị định thứ 8 của Đức Lý Giáo-Tông là phải “mặc áo trắng”.

Ban Chỉnh Đạo thì cho rằng: “Bằng khoán đất và tất cả giấy tờ của Đạo đều là của ông Tương đứng tên thay mặt ngày xưa cùng với Bà Nữ Đầu-Sư Lâm Hương Thanh” Thì hôm nay đây ông Tương trở về với vị thế một chủ nhà.

Đức Hộ-Pháp với cương vị Hộ-Pháp Chưởng quản Nhị Hữu Hình Đài có Đức Lý công nhận qua bài:

THI

HỘ giá Chí-Tôn trước đến giờ.
PHÁP luân thường chuyển máy Thiên-cơ.
CHƯỞNG quyền Cực-Lạc phân ngôi vị.
QUẢN suất Càn-khôn định cõi bờ.
NHỊ kiếp Tây Âu cầm máy tạo.
HỮU duyên Đông-Á nắm Thiên-thơ,
HÌNH hài Thánh-Thể chừ nên tướng.
ĐÀI trọng hồng-ân gắng cậy nhờ.

Ngài phán định rằng:

“Những Chức sắc phế phận, bỏ Toà Thánh ra đi, đã bị Hội-Thánh ngưng quyền, nay ăn-năn hối cải, muốn trở về tạ tội xin Hội-Thánh khoan hồng, thì khi ra đi mang phẩm tước gì, nay trở về phải mang phẩm tước đó, chứ không thể xưa là một phẩm Quyền Đầu-Sư nay quay trở lại với một phẩm Giáo-Tông được! Với những hình thức cờ quạt lộng tàng, tiền hô hậu ủng như thế này không thể chấp nhận cho vào Toà Thánh được” .

Thánh vệ đã canh giữ các cửa vào Nội-ô một cách nghiêm nhặc. Buộc lòng phái Bến Tre phải để liên đài ông Trang ở ngoài cửa Hoà viện (cửa số 1) rồi các vị kia tủa ra khắp các cửa định tìm đường xông vào.

Phía Toà Thánh thì số người của Minh Thiện Đàn, Phạm Môn kéo hết lực lượng về giữ an ninh trật tự nên đối phương không thể vào được.

Phía Toà án Tây ninh của Pháp ủng hộ phái Bến tre, nhưng trời đổ mưa như trút, nhóm người này chạy tán loạn, lại bị số lính của thực dân Pháp tới không biết bên nào chủ hoà, bên nào chủ chiến, khiến họ đuổi cả nhóm Chi phái chạy tơi bời.

Trong lúc đó thì có cụ ông Lê Vinh Hiển, trước đây là một thành viên Thiên Địa Hội chống thực dân Pháp, bị bắt kết án “khổ sai chung thân” nơi Côn Đảo, ông vượt ngục trở về, thả bè trôi tấp vào Rạch giá và tiếp tục mưu đồ chống Pháp, bằng cách là cải cả tên họ. Việc này là vào đầu năm Bính-Dần (1926) chính các Ngài Lê văn Trung, Hộ-Pháp và Thượng-Phẩm có cầu Đức Thượng Đế giáng Cơ thâu nhận là đệ tử tiền khai Đại-Đạo, Đức Chí-Tôn đã đổi tên Lê Vinh Hiển thành Lê Ngọc Diệp để tránh cuộc truy lùng của thực dân Pháp. Ông này chỉ đứng phía sau làm hậu thuẫn cho các việc đạo sự.

Ông Lê Ngọc Diệp đến gặp ông Tri phủ Nguyễn Ngọc Tương Giáo-Tông của phái Bến Tre. Cụ nói:

Việc của người Việt Nam hãy để cho người Việt Nam tự giải quyết tốt hơn, cũng như việc của Đạo Cao Đài hãy để cho người Cao Đài tự giải quyết, chứ để người Pháp phân xử thì nhục lắm.

Ông đề nghị giúp ông Tương giải quyết:

- Tôi có ba điều thắc mắc, nếu Đạo huynh giải đáp thoả đáng, tôi sẽ yêu cầu Chú Tám nó (Chỉ Đức Hộ-Pháp) mở rộng cửa Toà Thánh thiết lễ long trọng tôn vinh Đạo huynh lên lãnh đạo Toà-Thánh Cao-Đài. Còn nếu Đạo huynh chưa giải đáp được thì hãy đem thuộc hạ về Bến Tre tìm câu giải đáp, khi nào tìm được hãy trở về Tây Ninh, tôi vẫn giữ lời hứa. Nếu chú Tám và Hội Thánh không giúp tôi thi hành lời hứa thì tôi sẽ tự sát trước mặt Đạo huynh để tạ tội vì không thực hành lời hứa này.

Thắc mắc thứ nhứt: Từ ngàn xưa các Tôn giáo đều phải trải qua ba thời kỳ:

- Thời kỳ lập pháp.

- Thời kỳ thịnh pháp

- Thời kỳ mạt pháp

Nay Đức Chí-Tôn đã nhiều lần lặp đi lặp lại rằng Đạo khai truyền thất ức niên, thế thì thời kỳ lập pháp của Đạo Cao Đài ít nhứt cũng một trăm năm, rồi còn phải trải qua bốn trăm ngàn năm của thời kỳ thịnh pháp nữa mới tới thời kỳ mạt pháp. Như vậy Đạo Thầy còn trong thời kỳ phôi thai, mở ra chưa được mười năm, còn trong thời kỳ lập pháp, thì Đạo hư chỗ nào mà các Ngài phải lập Ban Chỉnh Đạo? Vả lại Thánh trước Hiền xưa đã nói: Nhơn hư Đạo bất hư thì giờ đây Ban Chỉnh Đạo là chỉnh nỗi gì? Nếu như Anh Cả là Đức Quyền Giáo-Tông có hư thì chỉnh Anh Cả, hoặc chú Tám (Hộ-Pháp) có hư thì chỉnh chú Tám nó, sao lại Chỉnh Đạo? - Giữa cơn mưa lạnh mà áo của Ngài Nguyễn Ngọc Tương đẵm mồ hôi, tất nhiên là ông không thể nào trả lời được câu hỏi này rồi!

Ông Lê Ngọc Diệp hỏi tiếp câu thứ nhì:

Trước kia ông Ngô Văn Chiêu không nhận phẩm Giáo-Tông, buộc Đức Chí-Tôn phải trao quyền cho Đức Lý Đại Tiên Trưởng kiêm luôn chức Giáo-Tông Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ. Nay Anh Cả Thượng Trung Nhựt dầu cho là Giáo-Tông hữu hình thì cũng chỉ là Quyền Giáo-Tông mà thôi. Giờ này Anh Cả đã qui Tiên, thì Đạo huynh có muốn thay thế cũng phải là Quyền Giáo-Tông như Anh Cả thôi, chứ sao Đạo huynh lại xưng là GIÁO-TÔNG?

Vậy Đức Lý Giáo-Tông đã bị cách chức hồi nào?. Đức Thượng Đế có bằng lòng việc từ chức của Đức Lý Giáo-Tông chưa? Đạo huynh tự phong là Giáo-Tông có được sự đồng ý của Đức Thượng Đế chưa? Còn nếu Đạo huynh cho rằng do thuộc hạ của Đạo huynh phong cho thì là Giáo-Tông của phái Bến Tre chứ không thể là Giáo-Tông của Cao-Đài Toà-Thánh Tây Ninh được.

Ông Lê Ngọc Diệp tiếp:

Qua hai câu hỏi thắc mắc của tôi Đạo huynh không trả lời được thì dầu cho có câu hỏi thứ ba thì Đạo huynh cũng không hội đủ điều kiện để tôn vinh lên lãnh đạo Cao Đài. Thôi Đạo huynh cùng nhóm anh em thuộc hạ hãy về Bến Tre mà suy ngẫm các câu hỏi ấy.

Thế là bên ngoài trời mưa để trợ lực và phía Toà án của thực dân đã đuổi lầm số người của Bến tre về hết rồi; chỉ còn lại liên đài của ông Trang nằm trơ trọi. Hội Thánh Cao-Đài Tây Ninh lo xây tháp cho Ngài Lê Bá Trang an táng trong nội ô Toà Thánh theo nghi thức Đạo chu toàn.

►Xem tiếp CHƯƠNG 03 >>>>>

 

Cập nhật ngày: 15-06-2009